09:33 25 Tháng Mười 2020
Kinh doanh
URL rút ngắn
Kinh tế Việt Nam hậu Covid-19 (36)
20
Theo dõi Sputnik trên

Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) dự đoán 2 kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020. Trong đó, khả năng cao tăng trưởng kinh tế năm nay sẽ đạt 3,8%. Khả năng thấp hơn, nền kinh tế có thể tăng trưởng 2,2%.

Theo nhóm chuyên gia của VEPR, kịch bản lạc quan 5% được xác định là khó đạt và triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2020 phụ thuộc vào khả năng khống chế bệnh dịch Covid-19, không chỉ trong nước mà còn trên thế giới.

Triển vọng kinh tế Việt Nam 2020 phụ thuộc vào khả năng khống chế Covid-19

Sáng nay 21/7, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã tổ chức buổi tọa đàm Công bố báo cáo kinh tế vĩ mô quý II và 6 tháng đầu năm 2020 tại Hà Nội.

Trình bày báo cáo tổng hợp phân tích, đánh giá của nhóm chuyên gia đến từ Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, PGS.TS Phạm Thế Anh - Kinh tế trưởng VEPR cho biết, trong quý II/2020, dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới.

Trước ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch do coronavirus lên kinh tế toàn cầu, “Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có mức tăng trưởng kinh tế dương trong quý II/2020, đạt 0,36%”. Tính chung 6 tháng đầu năm, GDP tăng 1,81%.

Theo các chuyên gia của VEPR, trong bối cảnh khó khăn chung, khu vực được cho là điểm sáng giúp tăng trưởng 6 tháng của Việt Nam mức 1,81% là nông nghiệp.

“Khu vực nông nghiệp trở thành điểm sáng của tăng trưởng 6 tháng vừa qua, đóng góp vào mức tăng trưởng chung là 12%, gấp đôi cùng kỳ”, báo cáo nêu rõ.

Bên cạnh đó, khu vực đóng góp thứ 2 là chế biến chế tạo, đóng góp khoảng 5% vào mức tăng trưởng chung. Một phần do đầu tư công và hoạt động xây lắp vẫn diễn ra trong quá trình giãn cách xã hội.

Trong nửa đầu năm 2020, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 7,3%, tổng vốn đăng ký mới giảm 19% và tổng số lao động đăng ký giảm 21,8% so với 6 tháng đầu năm 2019.

Đáng chú ý, tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng 38,2% so với cùng kỳ năm trước.

Theo báo cáo của VEPR, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 3,17%, lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm 2020 ở mức 4,19% do giá lương thực, thực phẩm tăng.

“Tỷ giá trung tâm gần như đi ngang trong suốt quý II/2020. Trong khi đó, tại ngân hàng thương mại, tỷ giá có xu hướng giảm. Tỷ giá có thể giữ mức thấp đến hết năm do đồng USD có xu hướng suy yếu”, PGS.TS Phạm Thế Anh cho biết.

Ngoài ra, giá vàng trong nước đang theo sát những bước tiến của giá vàng thế giới. Với triển vọng kinh tế toàn cầu ảm đạm, quý tới giá vàng trong nước được dự báo vẫn ở mức cao.

Trong bối cảnh đó, chuyên gia của VEPR nhận định triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2020 phụ thuộc vào khả năng khống chế bệnh dịch, không chỉ trong nước mà còn trên thế giới.

Theo báo cáo vừa công bố, những yếu tố có thể hỗ trợ tăng trưởng trong phần còn lại của năm, bao gồm kỳ vọng về triển vọng kinh tế do việc hoàn tất ký kết Hiệp định thương mại tự do và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVFTA và IPA) đem lại.

Bên cạnh đó, tiến độ giải ngân và thi công các dự án đầu tư công trọng điểm được đẩy nhanh như mong đợi, chi phí nguyên nhiên vật liệu duy trì ở mức thấp do suy giảm nhu cầu tiêu thụ và sản xuất.

Đặc biệt, các chuyên gia của VEPR nêu rõ, làn sóng dịch chuyển đầu tư nhằm phân tán rủi ro từ thương chiến Mỹ - Trung và tận dụng các ưu đãi đầu tư tại Việt Nam cũng là một điểm sáng.

Môi trường vĩ mô ổn định, lạm phát kiểm soát được ở mức trung bình, tạo điều kiện tốt cho việc thực thi các chính sách hỗ trợ tăng trưởng.

Đâu là thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay?

Báo cáo kinh tế vĩ mô quý II và 6 tháng đầu năm 2020, do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cũng phân tích, Việt Nam cũng đang gặp nhiều rủi ro và thách thức trong môi trường kinh tế thế giới bất ổn và tương lai bất trắc.

“Sự tái bùng phát của Covid-19 tại nhiều nước đi kèm với các biện pháp phong tỏa, kéo dài thời gian đứt gãy của chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị giữa các nước lớn có thể khiến một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam đối diện những rủi ro bất ngờ”, báo cáo nêu.

Bên cạnh đó, điểm yếu của kinh tế Việt Nam còn đến từ các rủi ro nội tại như, mất cân đối tài khóa lớn, tốc độ và mức độ đầu tư phát triển, đặc biệt là hạ tầng bị chững lại.

Các chuyên gia cho biết thêm, sức khỏe hệ thống ngân hàng - tài chính tuy dần được củng cố nhưng còn dễ tổn thương. Đặc biệt, kinh tế Việt Nam có sự phụ thuộc nặng nề của tăng trưởng vào khu vực FDI và thiếu tự chủ công nghệ và nguyên liệu. Chưa kể đến chất lượng lao động thấp, hiệu quả đầu tư công thấp và tình trạng nhũng nhiễu của bộ máy công quyền còn nặng nề, tiến trình cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước bị ngưng trệ, môi trường và thể chế kinh doanh chất lượng còn thấp.

Xét về các đối tác có dòng vốn FDI mạnh mẽ nhất vào Việt Nam, trong số 45 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong sáu tháng đầu năm, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 4,3 tỷ USD, chiếm 51,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc với 950,1 triệu USD, chiếm 11,3%; Đài Loan 775,2 triệu USD, chiếm 9,2%.

Tuy nhiên, trong báo cáo của mình, các chuyên gia của Viện cũng nêu rõ, với các diễn biến phức tạp gần đây trong quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước khác, việc Trung Quốc tăng đầu tư vào Việt Nam nên được xem xét thận trọng, tránh để nước ta trở thành nước trung gian để Trung Quốc xuất khẩu sang các thị trường khác.

“Thêm vào đó, các vấn đề liên quan đến môi trường, bảo hộ lao động và chất lượng công nghệ cũng nên được đặc biệt xem xét với các dự án FDI từ Trung Quốc”, báo cáo chỉ rõ.

Tại buổi tọa đàm, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) cũng nêu những nhận định lạc quan hơn về tăng trưởn kinh tế Việt Nam 6 tháng cuối năm cũng như cả năm 2020, đặc biệt là tình hình lạm phát.

“Giá xăng dầu giảm, giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm cùng vệc hạn chế đi lại du lịch khiến giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm là những nhân tố góp phần kìm hãm mức tăng giá ở Việt Nam”, báo cáo của VEPR nêu rõ.

Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Cấn Văn Lực cho rằng, năm nay, tình hình lạm phát hoàn toàn có thể kiểm soát được dưới 4%, khi sức cầu yếu, giá xăng dầu thời gian qua có nhích trở lại nhưng so với các năm bình quân giảm 20-25%, kiểm soát lượng cung tiền ở mức độ tích cực.

Tuy nhiên, đây là lúc cần bắt đầu quan tâm tới mức lạm phát năm 2021, do tình hình kinh tế phục hồi nhanh mạnh, giá dầu sẽ tăng trong năm tới.

Ông Lực nhấn mạnh, độ trễ chính sách, lượng cung tiền năm nay sang năm tới cũng khiến áp lực lạm phát năm tới cao rất nhiều.

VEPR dự đoán hai kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Cân nhắc những yếu tố tích cực cũng như tiêu cực đang tác động đối với kinh tế Việt Nam hiện nay, VEPR đưa ra các dự báo về tăng trưởng và lạm phát theo các kịch bản khác nhau về tình hình phòng chống bệnh dịch.

Theo đó, khả năng cao nền kinh tế sẽ đạt mức tăng trưởng 3,8% cho cả năm 2020. Ở một khả năng thấp hơn, nền kinh tế có thể chỉ tăng trưởng 2,2% do những diễn biến bất lợi của bệnh Covid-19.

Cụ thể, với Kịch bản cơ sở (khả năng cao): Trong kịch bản này, bệnh dịch sẽ không tái phát trong nước trong thời gian còn lại của năm, và hoạt động kinh tế nội địa dần trở lại bình thường.

Tuy nhiên dịch Covid-19 ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới được giả định có khả năng tái bùng phát, hoặc chưa đủ tự tin khiến các nước phải kéo dài thời gian phong tỏa sang nửa sau quý III/2020, ảnh hưởng đến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam và nhu cầu du lịch, lưu trú tại Việt Nam.

Theo đó, mức độ tác động của Covid-19 lên các ngành nông lâm ngư nghiệp, sản xuất chế biến chế tạo và các ngành trong khu vực dịch vụ sẽ nghiêm trọng hơn. Tăng trưởng kinh tế cả năm được dự báo ở mức 3,8%.

Nhìn chung, tăng trưởng trong các ngành nghề sẽ khiêm tốn, trong đó các ngành bị ảnh hưởng nặng nhất bao gồm dịch vụ lưu trú, ăn uống, ngành khai khoáng và ngành kinh doanh bất động sản.

Kịch bản bất lợi (khả năng thấp) mà VEPR đưa ra cho biết, ở kịch bản này, bệnh dịch trong nước dù vẫn được khống chế hoàn toàn trong thời gian còn lại của năm và hoạt động kinh tế dần trở lại bình thường.

Tuy nhiên, nếu dịch Covid-19 ở các trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới tái bùng phát mạnh, các nước phải kéo dài thời gian phong tỏa sang quý IV/2020. Dẫn đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng và không có khả năng hồi phục trong năm 2020, kéo theo đó là sản xuất trong nước tăng trưởng yếu và các ngành khai khoáng phục vụ công nghiệp có khả năng thu hẹp.

Song song với đó, dịch vụ lưu trú và ăn uống cũng không có động lực hồi phục do thiếu khách du lịch nước ngoài, trong khi nhu cầu trong nước với các loại hình dịch vụ này cũng bị hạn chế do tình hình kinh tế kém khả quan, ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng. Tăng trưởng kinh tế cả năm được dự báo ở mức 2,2%.

“Khả năng cao nền kinh tế sẽ đạt mức tăng trưởng 3,8% cho cả năm 2020. Ở một khả năng thấp hơn, nền kinh tế có thể chỉ tăng trưởng 2,2% do những diễn biến bất lợi của bệnh dịch”, PGS.TS Phạm Thế Anh nhận định. Đồng thời cho rằng kịch bản lạc quan mức 5% khó xảy ra.

Trước đó, 3 kịch bản tăng trưởng được VEPR đưa ra là kịch bản lạc quan nhất GDP có thể tăng khoảng 5%. Ở kịch bản trung tính, GDP có thể tăng khoảng 3 - 4%, còn kịch bản bi quan tăng trưởng chỉ khoảng 1 - 2%.

Thúc đẩy đầu tư công, nhưng không phải bằng mọi giá

Một giải pháp được cho là “cứu cánh” cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam chính là đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Về vấn đề hiệu quả đầu tư công thấp, PGS. TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng, cần phải có giải pháp mang tính đột phá để giải quyết vấn đề này.

Theo ông Bảo, trong khi tiêu dùng và xuất khẩu khó lòng khả năng mang lại động cơ tăng trưởng trong nửa cuối năm thì đầu tư công lại mang lạị nhiều ưu điểm.

“Thực tế đầu tư công mang nhiều ưu điểm. Tiền bơm ra bằng chính sách tiền tệ chưa chắc đã được hấp thụ hết nhưng tiền bơm ra bằng chính sách tài khóa thông qua đầu tư công sẽ được nền kinh tế hấp thụ hết”, PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo nói.

Ông dẫn chứng gói 700.000 tỷ đồng mà Chính phủ lên kế hoạch giải ngân đầu tư công từ đầu năm hiện phát huy tác dụng như một cú hích cho nền kinh tế lúc này.

“Nguồn tiền này kích thích tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, giải quyết đầu ra cho các ngành công nghiệp, trong khu vực sản xuất và quan trọng nhất là hàng hóa công sẽ được tạo ra, các công trình công cộng nâng cao chất lượng cuộc sống. Từ đó, tạo ra bầu không khí lạc quan cho nền kinh tế phục hồi và phát triển”, PGS. TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo cho hay.

Trước vấn đề giải ngân vấn đầu tư công 6 tháng đầu năm vẫn chậm chạp và ì ạch, chưa được như kỳ vọng, các chuyên gia cũng đồng tình với quan điểm thúc đẩy đầu tư công trong nửa cuối năm là việc nên làm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, thúc đẩy đầu tư công không nên là việc tăng chi tiêu công một cách dàn trải, vội vàng, thiếu kiểm soát. Việt Nam chỉ nên đẩy nhanh những dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, đã được phê duyệt và đã được bố trí sẵn vốn thực hiện.

Cụ thể, theo PGS.TS Phạm Thế Anh, ở đây không phải là việc vẽ ra các dự án mới mà chỉ nên tập trung vào các dự án trọng điểm, những dự án đã có vốn sẵn. Thúc đẩy đầu tư công không nên là việc tăng chi tiêu công một cách dàn trải, vội vàng, thiếu kiểm soát.

“Việt Nam chỉ nên đẩy nhanh những dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, đã được phê duyệt và đã được bố trí sẵn vốn thực hiện. Việc chia nhỏ ra làm nhiều gói thầu và thực hiện rải rác ở nhiều địa phương để nhiều doanh nghiệp và nhiều địa phương có thể tiếp cận, tạo sự lan tỏa tốt hơn cũng có thể được cân nhắc như một giải pháp đặc biệt”, PGS.TS Phạm Thế Anh đề xuất.

Về vấn đề này, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, thúc đẩy đầu tư công là cần thiết nhưng không phải thúc đẩy bằng mọi giá, mà vẫn phải đảm bảo yếu tố tiên quyết là hiệu quả.

“Đây là giải pháp mà nhiều nước cũng đang thực hiện để hỗ trợ nền kinh tế, mà tiêu biểu Trung Quốc vừa qua đã thúc đẩy đầu tư công rất mạnh mẽ để đạt được mức tăng trưởng khá ấn tượng trong quý II”, ông Lực nói.

Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, việc cắt giảm ngân sách thường xuyên (tiêu dùng) tối thiểu 10% nên được thực hiện nhằm dành nguồn lực cho việc khắc phục những hậu quả do bệnh dịch gây nên.

Kết luận báo cáo của VEPR cũng nhấn mạnh, cùng với những chính sách mang tính ngắn hạn hiện tại nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của Covid-19, Chính phủ Việt Nam không nên bỏ lỡ cuộc khủng hoảng, biến nguy thành cơ, tranh thủ sự đồng thuận của người dân và các ngành, địa phương thúc đẩy các chính sách có tầm nhìn dài hạn nhằm cải thiện nền tảng vĩ mô, môi trường kinh doanh, cơ sở cho niềm tin xã hội để chuẩn bị cho những bất trắc lớn hơn trong tương lai.

“Đặc biệt, dù có chậm trễ, Việt Nam nên từng bước xây dựng đệm tài khóa để phòng chống những cú sốc kiểu Covid-19 hoặc những diễn biến bất ngờ của chính dịch bệnh này trong những năm tới”, các chuyên gia kinh tế hàng đầu của VEPR nhấn mạnh.
Chủ đề:
Kinh tế Việt Nam hậu Covid-19 (36)