07:08 26 Tháng Mười 2020
Kinh doanh
URL rút ngắn
10
Theo dõi Sputnik trên

Kinh tế tăng trưởng thần tốc, GDP Việt Nam tăng hơn 300% nhờ hội nhập WTO và tham gia 13 FTA, đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh trước Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đặc biệt, theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã tạo thêm động lực và mang lại nhiều tác động tích cực cho kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong việc mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa. Do đó, Việt Nam cần tạo tâm thế chủ động trong việc thực hiện các FTA.

Gia nhập WTO và tham gia 13 FTA giúp GDP Việt Nam tăng hơn 300%

Chiều 23/9, Đoàn Giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tiến hành làm việc với Chính phủ, các bộ, ngành về việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.

Tại đây, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã thay mặt Chính phủ có báo cáo tổng quát về tình hình “thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên” với Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tham dự buổi làm việc có nhiều nhà lãnh đạo khác như Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cùng đại diện một số bộ, ban, ngành Trung ương.

Đến nay, Việt Nam đang thực hiện 13 Hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang đi vào đàm phán 3 FTA. Trong số 13 Hiệp định FTA đã có hiệu lực và đang triển khai, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia, tiếp theo đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA). Đây cũng là hai FTA do chính Quốc hội phê tiến hành phê chuẩn.

Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết, mỗi FTA có tác động khác nhau đến thương mại Việt Nam. Việc ký kết và tham gia các FTA có tác động lớn và tích cực đến nền kinh tế Việt Nam thông qua việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu.

Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng và đa dạng hóa, thị trường dịch vụ tài chính phát triển hơn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nước ngoài, hệ thống thể chế, chính sách cũng từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực thi cam kết trong các FTA. Đặc biệt, kim ngạch xuất nhập khẩu sang các nước đối tác tăng, củng cố thị trường truyền thống, khơi thông nhiều thị trường tiềm năng trên cơ sở thúc đẩy quan hệ với các đối tác chiến lược kinh tế quan trọng, nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước.

Như đã nói, các FTA góp phần kiện toàn bộ máy nhà nước thông qua cải thiện chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch hơn, thuận lợi, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

“Cùng với tham gia WTO từ năm 2007, việc thực thi các FTA đã góp phần thúc đẩy GDP của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết.

Kinh tế thế giới suy thoái, Việt Nam vẫn xuất khẩu kỷ lục

Theo Tư lệnh ngành Công Thương, chỉ tính riêng trong năm 2019, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế và thương mại giảm do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại, căng thẳng, cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu ở mức cao, kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và 10 nước thành viên Hiệp định CPTPP đạt 77,4 tỷ USD, tăng 3,9% so với năm 2018.

Đặc biệt, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu năm 2019 vượt mốc 500 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2018, kim ngạch nhập khẩu 2019 đạt 253,5 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2018.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang 10 nước thành viên Hiệp định CPTPP đạt 39,5 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2018. Kim ngạch nhập khẩu từ 10 nước thành viên Hiệp định CPTPP đạt 37,9 tỷ USD, tăng 0,7% so với năm 2018. Trong năm 2019, Việt Nam đã xuất siêu sang các nước thành viên Hiệp định CPTPP là 1,6 tỷ USD trong khi năm 2018 Việt Nam nhập siêu từ các nước thành viên Hiệp định CPTPP là 0,9 tỷ USD.

Cũng theo báo cáo của Chính phủ, nếu chỉ tính kim ngạch xuất nhập khẩu sang 2 thị trường mới chưa có FTA là Canada và Mexico thì trong năm 2019 Việt Nam xuất siêu hơn 5 tỷ USD, tương đương 50% tổng giá trị xuất siêu của Việt Nam. Bộ trưởng Trần Tuấn Anh khẳng định, đây cũng chính là hai đối tác có quan hệ FTA mới. Cụ thể, xuất khẩu sang Canada tăng 29,8%, Mexico tăng 26,3%. Báo cáo cũng chỉ rõ, trong 6 nước đối tác, xuất khẩu sang Nhật Bản chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng xuất khẩu của Việt Nam (chiếm 8,4%), xếp thứ hai là Canada (1,6%).

“Tuy nhiên, thị phần hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại các nước đối tác CPTPP phần lớn còn thấp. Trong đó, cao nhất là tại Nhật Bản (chiếm 2,8%) và thấp nhất là Mexico (chiếm 0,6%). Do vậy, còn nhiều tiềm năng để tăng trưởng xuất khẩu, nâng cao thị phần tại thị trường các đối tác này”, ông Trần Tuấn Anh nhận định.

Bên cạnh đó, Tư lệnh ngành Công Thương cũng cho hay, trong năm 2019, Việt Nam đã cấp 21.163 C/O mẫu CPTPP cho hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đi các nước thuộc hiệp định với tổng giá trị hàng hóa gần 600 triệu USD. Trong đó, Canada và Mexico là hai thị trường mới có FTA với Việt Nam có tỷ lệ sử dụng C/O mẫu CPTPP cao nhất trong số các nước thành viên.

Trong báo cáo của mình, Bộ trưởng Công Thương cũng trình bày, trong 8 tháng đầu năm 2020, trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam đã ảnh hưởng đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng nhưng tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 337,23 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 175,36 tỷ USD, tăng 2,3% và nhập khẩu đạt 161,87 tỷ USD, giảm 2,4%.

Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, chúng ta đạt được kết quả này là minh chứng cho chủ trương đúng đắn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế.

“Trong đó có việc tham gia các FTA và chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong tăng cường thực hiện và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, đã có hiệu lực hướng tới đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng hiệu lực và hiệu quả”, đồng chí Trần Tuấn Anh nêu rõ.

EVFTA cho thấy hiệu quả rõ rệt như thế nào?

Đáng chú ý, trong báo cáo của mình, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng cho biết, riêng đối với Việt Nam, ngay sau ngày Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực (tức ngày 1/8/2020) thì đến ngày 6/8/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1201 về Kế hoạch thực hiện Hiệp định EVFTA.

Sau hơn một tháng rưỡi thực thi Hiệp định EVFTA, Chính phủ, các bộ, ngành đã khẩn trương ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật thực thi các cam kết của Hiệp định EVFTA với 1 nghị định, 2 quyết định và 1 thông tư liên quan.

Kết quả thương mại mà EVFTA này mang lại là vô cùng tích cực. Theo Bộ trưởng, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu mới đi vào thực thi trong một khoảng thời gian ngắn nhưng đã thu được những kết quả hết sức tích cực và khả quan.

“Trong 1 tháng kể từ ngày EVFTA có hiệu lực, các tổ chức được ủy quyền đã cấp trên 7.200 bộ C/O mẫu EUR.1 với kim ngạch 277 triệu USD đi 28 nước EU”, Bộ trưởng báo tin vui cho biết.

Theo Bộ trưởng, những mặt hàng của Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O mẫu EUR 1 chủ yếu là giày dép, thủy sản, nhựa và các sản phẩm từ nhựa, cà phê, hàng dệt may, túi xách, vali, rau quả, sản phẩm mây, tre, đan.

Thị trường nhập khẩu đa phần là các nước có cảng biển và trung tâm phân phối, trung chuyển của EU như Bỉ, Đức, Hà Lan, Pháp, Vương quốc Anh. Trong đó, nhiều lô hàng đã tới thị trường EU, thông quan và được hưởng ưu đãi từ Hiệp định này. 

“Để tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi Hiệp định quan trọng này, Chính phủ sẽ tiếp tục rà soát để hoàn thiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi Hiệp định, đặc biệt là việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật để bảo đảm phù hợp với Hiệp định EVFTA, trong thời gian tới, trên cơ sở các kiến nghị và giải pháp đã trình bày đối với Hiệp định CPTPP nêu trên”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.
Các rủi ro, thách thức khi Việt Nam tham gia các FTA

Tuy nhiên, trong báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Trần Tuấn Anh trình bày cũng chỉ rõ khó khăn, thách thức trong thực thi các FTA.

Theo Bộ trưởng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và việc tham gia các Hiệp định FTA nói riêng, đặc biệt là các hiệp định FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao và toàn diện như CPTPP và EVFTA không chỉ mang lại cơ hội cho Việt Nam mà kèm theo những rủi ro và thách thức.

Người đứng đầu Bộ Công thương chỉ ra một số thách thức cơ bản như thách thức về kinh tế, thách thức về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, thể chế, thách thức trong việc thực thi các cam kết trong những lĩnh vực mới chưa có trong những hiệp định trước đây về các vấn đề như lao động, công đoàn, môi trường, thách thức về đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, tạo được môi trường ổn định cho phát triển kinh tế.

Nêu cụ thể, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết, các FTA mà Việt Nam đã tham gia cho tới nay về cơ bản là với các nước có cơ cấu kinh tế tương đối giống Việt Nam, thậm chí là cạnh tranh với Việt Nam như: Ấn Độ, ASEAN, Trung Quốc nên lợi ích thu được từ các FTA chưa mang tính đột phá.

“Ngoài ra, một số mặt hàng nông sản của Việt Nam có sức cạnh tranh chưa cao do sản xuất nghiêng về số lượng, thị trường đối mặt với nhiều rủi ro. Một số doanh nghiệp không đảm bảo được chất lượng theo tiêu chuẩn của các nước đối tác”, Bộ trưởng cho hay.

Đặc biệt, trên 80% nông sản của Việt Nam vẫn xuất khẩu dưới dạng thô, kim ngạch còn thấp do giá trị xuất khẩu thấp hơn các sản phẩm cùng loại của nhiều nước khác. Trong khi đó, hệ thống các chính sách pháp luật nhìn chung còn thiếu, yếu và chồng chéo, cần sửa đổi, bổ sung để đảm bảo thực hiện các cam kết. Việc thực hiện các FTA chủ yếu được triển khai ở một số cơ quan quản lý nhà nước, chưa đồng bộ và chủ động tại tất cả các địa phương.

Đồng thời, cũng theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, nhận thức của một bộ phận người dân và doanh nghiệp về những cơ hội do FTA mang lại còn hạn chế, tạo ra thách thức trong triển khai và nắm bắt cơ hội mới.

Theo đó, việc các cơ quan ban ngành hiện nay đang tiến hành đánh giá tác động và tình hình thực hiện FTA tại thời điểm này là thực sự cần thiết với mục đích mang lại cái nhìn bao quát, xác định được cơ hội – thách thức với doanh nghiệp và nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ và giúp cho công tác thực thi trong thời gian tới được hiệu quả hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho Việt Nam.

Sau khi phân tích những thành tựu, kết quả đã đạt được cùng những khó khăn, thách thức đặt ra trong quá trình thực thi, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối với Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương, Chính quyền địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, người lao động và người dân nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi các FTA đã ký trong giai đoạn tiếp theo.

“Từ đó nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp, ngành hàng và sản phẩm trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
“Việt Nam thực ra mới xuất thô, hàng hóa chưa ở mức tinh chế”

Tham gia phát biểu tại buổi làm việc giữa Đoàn Giám sát UBTVQH và đại diện Chính phủ, các bộ, ngành, hầu hết các đại biểu bày tỏ nhất trí với Báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Trần Tuấn Anh trình bày, đồng thời khẳng định, việc tham gia các FTA đã có tác động tích cực đến nhiều mặt của nền kinh tế Việt Nam.

Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội- PGS.TS Trần Hoàng Ngân (viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM) cho rằng, việc ký kết các FTA đã đem lại rất nhiều lợi ích cho quốc gia từ kinh tế tăng trưởng, GDP bình quân đầu người được cải thiện.

“Theo số liệu, năm 1995, GDP đầu người của Việt Nam chỉ 276 USD thì đến nay là khoảng 2.740 USD, gấp 10 lần. Việc ký kết các FTA đã hỗ trợ xuất khẩu, từ đó giảm nghèo, nâng cao GDP bình quân đầu người”, ĐBQH Trần Hoàng Ngân nêu rõ.

Thông qua nghiên cứu các báo cáo, PGS.TS Trần Hoàng Ngân kiến nghị Chính phủ Việt Nam nên quan tâm hơn nữa tới thị trường Ấn Độ.

“Thời gian qua, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này có xu hướng tăng lên nhưng về quy mô còn quá nhỏ bé (chỉ có 6,6 tỷ USD cho thị trường 1,3 tỷ dân của Ấn Độ)”, đại biểu nhận xét.

Vị chuyên gia cũng lưu ý, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ sâu, không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, để nếu doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường đó sẽ được hưởng đầy đủ các hỗ trợ, ưu đãi.

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng nhấn mạnh, việc Quốc hội chọn nội dung giám sát “Việc thực hiện các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên” là cần và đúng.
“Việc nước ta gia nhập các Hiệp định này là một bước quan trọng đánh dấu bước phát triển thành công trong tư duy của quá trình đổi mới”, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội chỉ rõ xem xét tổng thể tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Đồng thời, Phó Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao nỗ lực, trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa bảo đảm các nội dung giám sát.

“Báo cáo của Chính phủ khá đầy đủ với nội dung rõ ràng, cấu trúc hợp lý. Báo cáo đã làm rõ về cam kết của Việt Nam trong các FTA mà Việt Nam là thành viên, kể cả các cam kết về thuế quan, hàng rào phi thuế quan, hải quan, làm rõ việc mở cửa thị trường thương mại dịch vụ, bảo hộ đầu tư, các cam kết sở hữu trí tuệ, mua sắm công”, đồng chí Tòng Thị Phóng nhận xét.

Phó Chủ tịch Quốc hội dẫn báo cáo nêu, Chính phủ đã tích cực xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để đáp ứng công tác điều hành, thực hiện các chủ trương, nội dung, đặc biệt là các nghị quyết đã được Quốc hội phê chuẩn.

“Việc thực hiện FTA đã tác động tích cực đến chính trị, đối ngoại, kinh tế, an ninh, quốc phòng; khẳng định được vị trí, vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”, báo cáo nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng cũng nêu lên những mặt hạn chế như: chưa lường hết diễn biến của kinh tế, cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn, ngày càng gay gắt.

“Việt Nam thực ra mới xuất thô, hàng hóa chưa ở mức tinh chế. Doanh nghiệp của nước ta phải rất cố gắng để vươn ra thế giới, tiếp cận thị trường, thông tin; pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện. Nhiều lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng nhưng chưa phát huy được”, đồng chí Tòng Thị Phóng nói.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội cũng lưu ý cần đẩy nhanh xuất khẩu, tận dụng các ưu đãi từ các FTA mà Việt Nam tham gia. Chú ý rào cản phi thuế quan, giúp đỡ mặt hàng trong nước, quan tâm các ngành có chất lượng, sản phẩm trong nước có ưu thế.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cần quan tâm việc đánh giá các tác động, dự báo các tác động từ các FTA trong tình hình mới hiện nay. Cùng đó Phó Chủ tịch Tòng Thị Phóng cũng yêu cầu các bộ, ngành cần chủ động cần phối hợp với Bộ Công Thương trong việc triển khai có hiệu quả các FTA.

Đọc thêm: