18:36 03 Tháng Tám 2021
Kinh doanh
URL rút ngắn
Theo
10
Theo dõi Sputnik trên

Việt Nam là ‘đối thủ đáng gờm đe dọa nguồn vốn FDI vào Trung Quốc. Chuyên gia đánh giá, quốc gia Đông Nam Á này cũng là ‘cứ điểm sản xuất mới’, lựa chọn lý tưởng để thay thế Trung Quốc.

Là ‘ứng cử viên nặng ký’ thay thế Trung Quốc đón làn sóng FDI trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung còn kéo dài, Việt Nam hiện đang là điểm đến hấp dẫn hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài tại khu vực Đông Nam Á.

Đâu là những lý do tạo nên thành công của Hà Nội trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài (FDI)?

Vì sao Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của giới đầu tư nước ngoài?

Theo thống kê mới nhất của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến ngày 20/6/2021, cả nước có 33.787 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 397,89 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 241,1 tỷ USD, bằng 60,6% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có 80 quốc gia/vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam. Đầu tư của một số đối tác lớn như: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc đều tăng lên so với cùng kỳ.hứ tự của các quốc gia có lượng đầu tư lớn nhất vào Việt Nam lần lượt là Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông.

Vốn thực hiện dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 9,24 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ 2020. Tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 15,27 tỷ USD, bằng 97,4% so với cùng kỳ năm 2020.

Asia Legal của Anh mới đây đã có bài phân tích, liệt kê 10 lý do khiến các nhà đầu tư nước ngoài chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư tiềm năng.

Thứ nhất, Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi khi sở hữu đường bờ biển dài (3.260 km), nhiều cảng biển nước sâu, là cửa ngõ giao thương hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Bên cạnh đó, Việt Nam còn giáp với Trung Quốc, một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới hiện nay.

Sản xuất linh kiện điện, điện tử tại Công ty TNHH linh kiện tự động Minda Việt Nam ( vốn đầu tư của Ấn Độ) tại Vĩnh Phúc.
© Ảnh : Danh Lam- TTXVN
Sản xuất linh kiện điện, điện tử tại Công ty TNHH linh kiện tự động Minda Việt Nam ( vốn đầu tư của Ấn Độ) tại Vĩnh Phúc.

Thứ hai, Việt Nam có tình hình chính trị ổn định. Theo báo Anh, sự ổn định về mặt chính trị là một trong những yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư đến Việt Nam và điều này được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Nếu nhìn sang một số nước trong khu vực, có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các nước đều đã hoặc đang trải qua các cuộc đảo chính, khủng hoảng chính trị.

“Trong khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đảm bảo sự nhất quán trong chính sách phát triển kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài”, tác giả bài viết khẳng định.

Thứ ba, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nền kinh tế ổn định và năng động. Theo đó, bất chấp những khó khăn chung của kinh tế thế giới, 9 tháng đầu năm 2019, Việt Nam vẫn được đánh giá là quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định hàng đầu khu vực và thế giới. Cụ thể, GDP 9 tháng đầu năm 2019 ước tính tăng 6,98%, cao nhất so với cùng kỳ trong vòng 9 năm gần đây. Ngành chế biến, chế tạo tăng 11,37%. Thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng, nguồn cung hàng hóa dồi dào. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,6%; lượng khách du lịch quốc tế tăng 10,8%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 382,72 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 194,3 tỷ USD, tăng 8,2% và xuất siêu 5,9 tỷ USD, với 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, quy mô GDP 6 tháng đầu năm 2021 dự báo đạt gần 4 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GDP được dự báo đạt khoảng 5,8%. Đây là con số hết sức khả quan trong bối cảnh dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp.

Tại sao Việt Nam là lựa chọn lý tưởng để thay thế Trung Quốc?

Nguyên nhân thứ tư tạo nên thành công của Việt Nam đó là nhờ chính sách đầu tư nước ngoài thông thoáng.

Việt Nam luôn mở cửa thị trường và khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thông qua cải cách thủ tục hành chính và ưu đãi đầu tư. Điển hình là Luật Đầu tư 2020 và Luật Doanh nghiệp 2020, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021 tiếp tục thể hiện chính sách đầu tư nước ngoài cởi mở của Việt Nam bằng cách cắt giảm một số thủ tục hành chính về đầu tư.

Thứ năm, môi trường kinh doanh không ngừng được cải thiện. Trong 2019, nhiều chỉ số về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam được cải thiện. Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) tăng 3,5 điểm (từ 58 điểm lên 61,5 điểm), tăng 10 bậc (từ thứ 77 lên 67). Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) tăng 3 bậc với 6/7 nhóm chủ chốt tăng điểm. Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch và lữ hành tăng 4 bậc (từ hạng 67 lên hạng 63). Các bộ, ngành, cơ quan nhà nước ngày càng nhận thức rõ trách nhiệm của mình và tích cực tham gia cải thiện điểm số và xếp hạng chỉ số trong các lĩnh vực kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình.

Thứ sáu, lực lượng lao động trẻ và dồi dào. Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, với gần 88% dân số trong độ tuổi 25-59 tham gia lực lượng lao động, trong đó gần 40% tốt nghiệp trung học phổ thông; 23,1% đã được đào tạo có bằng cấp hoặc chứng chỉ. Ngoài ra, lực lượng lao động Việt Nam cũng được đánh giá cao nhờ sự chăm chỉ, trình độ học vấn cao và dễ đào tạo. Việt Nam cũng đã, đang và sẽ tiếp tục đầu tư cho giáo dục và đào tạo hơn các nước đang phát triển khác.

“Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các thị trường lao động trong khu vực”, báo Anh nhận định.

Thứ bảy, chi phí lao động cạnh tranh. Mặc dù mức lương tối thiểu vùng tăng hàng năm, Việt Nam vẫn là nước có chi phí lao động thấp. Lương ở Việt Nam vẫn chưa bằng một nửa lương ở Trung Quốc. Việc tăng lương ở Trung Quốc đã buộc các nhà sản xuất phải tìm kiếm thị trường có chi phí nhân công thấp hơn.

“Việt Nam với mức lương tối thiểu thấp và nền kinh tế đang phát triển là một lựa chọn để thay thế cho Trung Quốc”, tác giả bài viết nhấn mạnh.

Thứ tám, cơ sở hạ tầng và công nghệ của Việt Nam ngày được đồng bộ. Trước đây, hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng giao thông còn hạn chế được xác định là một trong những nguyên nhân tạo ra rào cản vô hình trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, để tháo gỡ những rào cản này, chính quyền và các địa phương đã tích cực triển khai thu hút mọi nguồn lực để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mạng lưới đường giao thông, sân bay, đường ra cửa khẩu, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, ...

Thứ chín, Việt Nam là thành viên của nhiều hiệp định thương mại “lớn và mạnh”. Một bằng chứng khác để chứng minh sự cởi mở về kinh tế của Việt Nam là Việt Nam đã và đang tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với nhiều quốc gia và khu vực để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam như các hiệp định thương mại song phương với Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Cộng đồng kinh tế ASEAN, CPTPP…và gần đây là Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA).

Nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi cái bóng của đại dịch Covid-19

Việt Nam có cái nhìn sâu sắc về làn sóng FDI thứ ba trở lại. Theo tờ báo Anh, nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng mạnh mẽ so với nhiều quốc gia khác trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19 hoành hành và có vị thế tốt để thu hút FDI. Nếu xem lần đầu tiên đất nước mở cửa cho đầu tư nước ngoài trở lại vào cuối những năm 80 là làn sóng FDI đầu tiên vào Việt Nam, thì làn sóng thứ hai có thể là dòng vốn FDI sau khi gia nhập WTO năm 2007.

Trong bối cảnh hiện nay, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung hoặc sự phân chia kinh tế có thể là một cột mốc đánh dấu làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài thứ ba đến Việt Nam, nhằm tìm kiếm cơ sở sản xuất thay thế bên ngoài Trung Quốc.

Nền kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi cái bóng của đại dịch Covid-19 và đang tìm cách phục hồi sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam là một trong số ít quốc gia thực sự có hoạt động kinh tế tăng trưởng vào năm ngoái, với GDP tăng 2,91% vào năm 2020. Việc mở rộng này được cho là nhờ những nỗ lực thành công của chính phủ trong việc ngăn chặn sự lây lan của virus cũng như tiếp tục cải cách kinh tế nhằm cải thiện nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Vừa qua, Việt Nam đã chứng kiến việc FDI giảm 25% so với cùng kỳ năm 2020, xuống còn 28,53 tỷ USD. Đây là kết quả không thể tránh khỏi trong bối cảnh Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) ước tính mức FDI toàn cầu đã giảm 42% vào năm ngoái, chỉ còn 859 tỷ USD.

Sau những tác động tiêu cực mà đại dịch mang lại, Việt Nam một lần nữa đang mong đợi sự tăng trưởng và đầu tư nước ngoài quay trở lại.

Việt Nam là đối thủ cạnh tranh ‘đáng gờm’ về đầu tư của Trung Quốc

Việt Nam đã là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm kiếm cơ sở thay thế hoặc bổ sung từ Trung Quốc trong những năm qua. Hiện tại, đất nước đang tiến hành cải cách kinh tế và khuyến khích tài chính để tiếp tục củng cố sự thu hút này.

Rất lâu trước khi chiến tranh thương mại Trung-Mỹ bắt đầu, Việt Nam đã thành công trong việc quảng bá hình ảnh mình như một điểm đến mới để đầu tư vào lĩnh vực sản xuất định hướng xuất khẩu.

Ví dụ, các nhà sản xuất quần áo toàn cầu như Nike và Adidas đã chuyển cơ sở sản xuất của họ sang Việt Nam lần lượt vào năm 2009 và 2012, dẫn đường cho các công ty công nghệ theo sau với các tên tuổi lớn như Intel, Samsung, Panasonic, Nokia, Microsoft và LG. Nhiều doanh nghiệp đã chọn Việt Nam làm trung tâm của họ tại Thị trường Châu Á trong những năm tiếp theo.

Thương chiến Mỹ-Trung và chi phí lao động ngày càng tăng cao ở Trung Quốc càng làm tăng sức hút của Việt Nam với các nhà đầu tư tiềm năng. Statista ước tính rằng chi phí lao động sản xuất ở Trung Quốc là 5,51 USD / giờ vào năm 2018, trong khi con số này ở Việt Nam là 2,73 USD / giờ. Việc các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả Trung Quốc, phát triển cơ sở tại Việt Nam để cung cấp cho thị trường Trung Quốc thực sự rất có ý nghĩa khi hai nước có Hiệp định thương mại tự do.

Trong khi đó, ngân hàng đầu tư Pháp Natixis đã thực hiện một nghiên cứu về bảy nền kinh tế châu Á mới nổi vào năm 2018 cho thấy Việt Nam là lựa chọn sản xuất thay thế hấp dẫn nhất so với Trung Quốc. Theo đó, đặc điểm nhân khẩu học, mức lương thấp và nhiều yếu tố khác như dịch vụ hậu cần đều giúp tăng cường lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.

Trao đổi với Conventus Law, luật sư Phùng Tuấn Anh, Giám đốc công ty luật VCI Legal, cho biết Việt Nam hiện là đối thủ cạnh tranh rõ ràng về đầu tư của Trung Quốc.

“Việt Nam cần trở thành một nền kinh tế tự do, tiến bộ và cởi mở hơn Trung Quốc nếu muốn cạnh tranh về nguồn vốn FDI. Mặc dù Việt Nam không thể cạnh tranh về quy mô thị trường và khối lượng tiêu dùng vì chúng tôi không có quy mô dân số như Trung Quốc, nhưng chúng tôi tìm kiếm lợi thế cạnh tranh của mình với điều kiện đầu tư, hệ thống pháp luật minh bạch, dễ dự đoán và phát triển một nền kinh tế thị trường kết nối toàn cầu với quy tắc của pháp luật”, ông Tuấn Anh phân tích.
Chính phủ Việt Nam cam kết bảo vệ các nhà đầu tư

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tập trung vào việc mở cửa thị trường đồng thời thúc đẩy quan hệ thương mại quốc tế.

Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và nhiều hiệp định thương mại thông thường trong khu vực với Mỹ, Trung Quốc, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và hầu hết các nền kinh tế quan trọng trên thế giới, Việt Nam đã trở thành thành viên của “kỷ nguyên mới” các hiệp định thương mại tự do toàn cầu hình thành nên các khối thương mại lớn nhất thế giới hiện nay như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) cũng như các hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu, Nhật Bản và Nam Triều Tiên.

Vị chuyên gia cho rằng, các nhà đầu tư quốc tế được hưởng lợi từ các biện pháp bảo vệ được áp dụng bởi cả luật pháp trong nước và quốc tế. Việt Nam hiện là thành viên của hơn 60 hiệp định thương mại ở mọi quy mô và hình thức và là một trong những nền kinh tế mở nhất trên thế giới.

Vị trí của Việt Nam trong xếp hạng mức độ dễ dàng kinh doanh hàng năm của Ngân hàng Thế giới đã tăng từ 91 trong số 183 quốc gia vào năm 2010 lên 70 trong số 190 quốc gia vào năm 2019.

Ông Tuấn Anh nói thêm: “Chính phủ Việt Nam rất cam kết bảo vệ các nhà đầu tư nước ngoài, đến nỗi các công ty trong nước đã phàn nàn rằng các điều khoản có lợi cho các đối tác quốc tế của họ. Đó là một sự đảo ngược hoàn toàn đối với tình hình ở Trung Quốc, nơi vẫn còn nhiều việc phải làm để ‘mở cửa’ cho các nhà đầu tư nước ngoài”.

Tuy nhiên, Hà Nội nhận thức được rằng luôn có thể làm được nhiều việc hơn thế, tuy nhiên, chính phủ Việt Nam đã thực hiện các quy định mới và thay đổi liên quan đến đăng ký kinh doanh, việc đăng ký kinh doanh vẫn còn khá mất thời gian với nhiều bước phải thực hiện và phải xin nhiều giấy phép nếu là người mới thành lập.

Luật Doanh nghiệp (LOE) 2020 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1, đơn giản hóa các thủ tục và quy định quản lý việc thành lập các doanh nghiệp mới. Mục tiêu là để hợp lý hóa sự dễ dàng mà các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước có thể thiết lập hoạt động trong nước.

Với GDP tăng 4,48% trong quý đầu tiên của năm nay, chính phủ đang dựa vào đầu tư nước ngoài để giúp thúc đẩy tăng trưởng đạt mục tiêu cả năm là 6,5%.

Trong khi Việt Nam tiếp tục coi mình là một giải pháp thay thế hợp lý cho Trung Quốc, quốc gia này đã bắt đầu nhìn xa hơn từ sản xuất công nghệ thấp sang các lĩnh vực công nghệ cao và giá trị gia tăng cao của nền kinh tế mới, công nghiệp 4.0 và chuyển đổi kỹ thuật số.

Tạo môi trường đầu tư “tầm cỡ thế giới”, chú trọng công nghệ cao

Với dân số gần 100 triệu người, chính phủ hiểu rằng khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh của mình trong lĩnh vực sản xuất giá rẻ có thời hạn sử dụng rất hạn chế.

Như vậy, Hà Nội bắt đầu ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có giá trị cao như điện tử và kỹ thuật phần mềm, định vị mình để tận dụng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Ngành công nghiệp điện tử là một trong những ngành phát triển nhanh nhất của đất nước. Giá trị xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam tăng từ 47,3 tỷ đô la Mỹ năm 2015 lên 96 tỷ đô la Mỹ năm 2020, chiếm một phần ba xuất khẩu quốc gia. Trong bảng xếp hạng toàn cầu về các nước xuất khẩu hàng điện tử, Việt Nam đã tăng từ vị trí thứ 47 năm 2001 lên vị trí thứ 12 vào năm 2019

Năm ngoái, gã khổng lồ công nghệ Hàn Quốc Samsung đã động thổ trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) trị giá 220 triệu đô la Mỹ tại Hà Nội, đây là cơ sở lớn nhất của công ty ở Đông Nam Á.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, các doanh nghiệp FDI chiếm 95% doanh thu xuất khẩu hàng điện tử trong quý đầu tiên của năm 2021 và có rất ít lý do để nghi ngờ rằng xu hướng này sẽ thay đổi trong những năm tới.

Hà Nội đã cam kết gia tăng chuỗi giá trị sản xuất thông qua FDI và đã nỗ lực trong nhiều năm để chuẩn bị nâng cao trình độ dân số. Ví dụ, Việt Nam đã khởi động vào tháng 4 một dự án thí điểm với 5 trường đại học của Australia để cung cấp các khóa học trực tuyến nước ngoài cho sinh viên bản địa. Động thái này đưa Việt Nam trở thành vị trí hàng đầu trong hệ thống giáo dục trực tuyến châu Á.

Các nỗ lực quản lý và kinh tế của chính phủ Việt Nam, cùng với sự suy thoái liên tục từ mối quan hệ song phương Trung-Mỹ căng thẳng, sẽ giúp thúc đẩy FDI hướng tới quốc gia Đông Nam Á trong những năm tới

Chuyên gia nhấn mạnh rằng, việc Việt Nam không theo đuổi độc quyền công nghiệp của các đại gia nhà nước, chủ nghĩa địa phương hay ép buộc chuyển giao công nghệ nước ngoài, cũng như lo ngại về thị trường Trung Quốc, khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nguồn vốn FDI có giá trị cao.

“Chính phủ đã làm việc nghiêm túc, khẩn trương, chăm chỉ để xây dựng không chỉ môi trường đầu tư “tầm cỡ đẳng cấp thế giới” mà còn là nguồn lao động hàng đầu, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thời đại mới”, lãnh đạo VCI Legal khẳng định.