05:09 04 Tháng Tám 2021
Kinh doanh
URL rút ngắn
Theo
30
Theo dõi Sputnik trên

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế vĩ mô (CIEM) vừa đưa ra hai kịch bản về nền kinh tế Việt Nam, tăng trưởng GDP năm 2021.

Theo CIEM, kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng 5,9% trong năm 2021 hoặc 6,2% nếu triển vọng tăng trưởng lạc quan hơn và tình hình dịch Covid-19 đỡ hơn.

Đáng chú ý, các chuyên gia hàng đầu của CIEM cũng khuyến nghị, Việt Nam cần tránh tư duy về độc lập – tự chủ của nền kinh tế theo hướng chỉ tập trung “phòng thủ” mà phải nâng cao sức chống chịu với những cú sốc mới.

CIEM: Hai kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2021

Sáng 15/7, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) phối hợp tổ chức Hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2021: Cải cách tăng trưởng bền vững”.

Tại Hội thảo này, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng Ban nghiên cứu tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định triển vọng kinh tế Việt Nam trong sáu tháng cuối năm.

Theo đó, kinh tế Việt Nam nửa cuối năm 2021 có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố về khả năng kiểm soát dịch bệnh Covid-19, tiến độ giải ngân đầu tư công, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ kinh tế số-chuyển đổi số, khả năng tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới và bảo đảm cơ hội cho lao động nữ.

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu của CIEM dự báo hai kịch bản về nền kinh tế Việt Nam trong năm 2021 với nhiều điểm đáng chú ý.

Theo ông Nguyễn Anh Dương, với kịch bản thứ nhất, khi dịch bệnh Covid-19 ở Việt Nam được kiểm soát vào tháng 10/2021 sẽ tạo điều kiện nối lại hoạt động sản xuất-kinh tế ở mức bình thường và tăng trưởng kinh tế cả năm có thể đạt 5,9%, xuất khẩu cả năm tăng 16,4%, thặng dư thương mại ở mức 4,2 tỷ USD, lạm phát bình quân năm đạt 2,6%.

Kịch bản thứ hai giữ nguyên hầu hết các giả thiết như trong kịch bản đầu. Song với diễn biến khả quan hơn, dịch bệnh có thể khống chế sớm trong tháng 8/2021 và giả thiết tốc độ tăng GDP của thế giới, tín dụng và giải ngân đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước ở mức cao, tăng trưởng kinh tế cả năm có thể đạt 6,2%, xuất khẩu cả năm tăng 18,3%, thặng dư thương mại ở mức 5,4 tỷ USD và lạm phát bình quân là 2,8%.

Nhiều tổ chức quốc tế trước đó cũng đã đưa ra dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm nay. Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, Việt Nam có thể đạt mức tăng GDP 6,6%, trong khi đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cũng kỳ vọng quốc gia Đông Nam Á này có thể đạt mức 6,5%.

Gần nhất, Ngân hàng UOB còn đánh giá Việt Nam hoàn toàn có thể đạt mức tăng lên đến 6,7% năm 2021.

Thách thức đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam 6 tháng cuối năm 2021

Bên cạnh những dự báo tích cực về tăng trưởng kinh tế Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực, giới nghiên cứu của CIEM cũng cho rằng, nền kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm đối mặt với không ít thách thức từ những bất định, rủi ro trong nội tại nền kinh tế thế giới.

Phân tích về bối cảnh chung của nền kinh tế, TS. Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng CIEM cho rằng bối cảnh kinh tế trong sáu tháng đầu năm không dễ dàng hơn so với năm 2020.

Theo vị chuyên gia, Việt Nam trải qua hai đợt bùng phát dịch Covid-19, nghiêm trọng nhất là đợt dịch từ cuối tháng 4, với những diễn biến khá phức tạp, lan rộng ra nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.

Hiện, số ca mắc Covid-19 vẫn tăng cao hàng ngày, với nhiều yếu tố quan ngại như các biến thể còn diễn biến phức tạp, lây lan nhanh, khó lường, luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát làn sóng tiếp theo.

Đáng lo ngại, đợt dịch này đã lan đến các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế lớn và gây ra nhiều khó khăn, thách thức lớn đối với nền kinh tế, hệ lụy là gây đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa.

Trước những diễn biến và tình huống bùng phát dịch nghiêm trọng, Chính phủ mới của Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhanh chóng bắt tay vào điều hành phát triển kinh tế-xã hội, kiên trì thực hiện “mục tiêu kép”.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng lắng nghe, cân nhắc những đề xuất trong tình hình mới, như cho phép các nhà máy trong khu công nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất trong điều kiện bảo đảm phòng chống dịch, cho phép doanh nghiệp chủ động nhập vaccine.

“Chính phủ vẫn ưu tiên bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định xã hội và để hiện thực hóa những ưu tiên này, kiểm soát lạm phát có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”, theo TS. Trần Thị Hồng Minh.

Mức tăng GDP 6,5% là thách thức lớn: Mỹ vẫn theo dõi sát sao Việt Nam

Nêu lên những yếu tố nền tảng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong nửa cuối chặng đường của năm, TS. Trần Thị Hồng Minh chỉ ra điểm sáng mà rất ít được đề cập tới, đó là việc định hình tư duy cải cách thể chế kinh tế.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, ngay trong bối cảnh khó khăn, ngoài khả năng kiểm soát dịch bệnh, Chính phủ cần tiếp tục đề ra nhiều giải pháp, nhiệm vụ cải cách nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, thúc đẩy thực hiện hiệu quả các FTA mới và mô hình phát triển kinh tế bền vững.

Viện trưởng CIEM dẫn chứng tại vòng lấy ý kiến cuối cùng trước khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn nhận được những đề xuất bổ sung nhiệm vụ mới có tính chiến lược, cấp thiết, dài hạn về phát triển hạ tầng pháp lý và kỹ thuật cho nền kinh tế.

“Sự quyết liệt với cải cách của Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao”, TS. Minh lưu ý.

Tại Hội thảo, phân tích các chỉ số kinh tế vĩ mô, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng Ban nghiên cứu tổng hợp CIEM cho rằng với tốc độ tăng GDP trong sáu tháng đạt 5,64% (quý 1 tăng 4,65% và quý 2 tăng 6,61%,) đà phục hồi tăng trưởng vẫn hiện hữu.

Kinh tế Việt Nam đã có quý đầu tiên mở rộng trong chu kỳ tăng trưởng và tiếp tục nằm trong nhóm duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức cao ở khu vực châu Á. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cả năm 2021 ở mức 6,5% là thách thức rất lớn”, nhóm nghiên cứu Viện CIEM lưu ý.

Báo cáo cũng chỉ ra thách thức đáng chú ý là cộng đồng doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh. Trong số đó, không ít doanh nghiệp đã phải chủ động cân nhắc điều chỉnh hướng sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh đó, hoạt động giải ngân đầu tư công tương đối chậm, đến 30/6, cả nước mới đạt 133.890 tỷ đồng, tương đương 29% kế hoạch giao.

Về xuất-nhập khẩu trong sáu tháng, xuất khẩu đạt 158,3 tỷ USD, tăng 29% song nhập khẩu hàng hóa đạt 159,3 tỷ USD, tăng 36,3% so với cùng kỳ. Như vậy, thâm hụt thương mại của Việt Nam đang ở mức 1,0 tỷ USD.

Ông Nguyễn Anh Dương lưu ý, hoạt động thương mại của Việt Nam có thể gặp một số thách thức, như đà phục hồi tăng trưởng có sự chênh lệch giữa các nhóm đối tác. Bên cạnh đó, các thị trường có thể gia tăng các cam kết và yêu cầu kỹ thuật liên quan như quy định xuất xứ hàng hóa, tiêu chuẩn mới về lao động, môi trường, phòng chống dịch bệnh.

Một điểm quan trọng cần lưu ý theo các chuyên gia của Viện CIEM chính là việc đối tác Mỹ vẫn tiếp tục theo dõi thâm hụt thương mại song phương với Việt Nam.

“Việt Nam còn có thể đối mặc với những quy định, chế tài liên quan (bảo hộ dữ liệu, khác biệt về chính sách thuế…) trong các hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới. Trong khi đó, các cơ chế bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp của Việt Nam mới đang trong giai đoạn thử nghiệm”, nhóm chuyên gia của CIEM nhấn mạnh.
CIEM: Kinh tế Việt Nam không thể chỉ mãi tập trung “phòng thủ”

Trong bối cảnh này, nhóm nghiên cứu của CIEM khuyến nghị cần có những góc nhìn mới, theo đó tư duy nâng cao mức độ độc lập, tự chủ của nền kinh tế cần được đặt ra nhiều hơn trong bối cảnh khó khăn (như cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung, đại dịch Covid-19....).

“Việt Nam cần có những giải pháp sớm giải quyết bài toán về thâm hụt thương mại với các đối tác trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đồng thời giảm sự phụ thuộc của xuất khẩu vào khu vực FDI”, báo cáo nhấn mạnh.

Theo CIEM, Việt Nam cần tránh tư duy về độc lập-tự chủ của nền kinh tế theo hướng chỉ tập trung vào “phòng thủ”, cụ thể là nâng cao sức chống chịu với những cú sốc kinh tế (khủng hoảng tài chính, chiến tranh thương mại hay dịch bệnh như Covid-19 – PV) thay vì cố gắng né tránh các cú sốc.

Theo đó, chuyên gia của CIEM nhấn mạnh rằng, hoạt động cải cách thể chế cần chủ động chuẩn bị theo thông lệ quốc tế tốt kết hợp với các thông lệ mới phù hợp, như việc cải cách không chỉ là “cắt giảm” quy định như trước đây mà phải đi vào thực tế hơn.

Ngoài ra, báo cáo của Viện CIEM cũng đề xuất Việt Nam cũng cần chủ động tìm kiếm các động lực từ những khu vực/đối tác có thể phục hồi sớm nhất sau Covid-19 đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trong mối liên kết với khu vực FDI.

TS. Trần Thị Hồng Minh cho rằng, thời gian tới Việt Nam cần tập trung vào ba giải pháp quan trọng.

Theo chuyên gia, Việt Nam vẫn cần thúc đẩy các cải cách đủ sâu rộng để phục hồi tăng trưởng một cách bền vững hơn.

Thứ nhất, bảo đảm có sự song hành giữa chính sách kinh tế vĩ mô và cải cách kinh tế vi mô, hướng tới phục hồi xanh và phục hồi bền vững.

Thứ hai, thúc đẩy phục hồi kinh doanh và nâng cao năng lực nội tại, mức độ tự chủ của nền kinh tế gắn với thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ ba, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ hướng tới kinh tế số và trang bị kỹ năng mới để cải thiện năng suất.

Đáng chú ý, báo cáo của CIEM cũng đưa ra một số đánh giá và định hướng chính sách với vấn đề di cư trong nước ở góc độ giới. Thực tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ, kéo theo thay đổi cơ cấu lao động và gia tăng dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị. Trong quá trình đó, những vấn đề liên quan đến lao động di cư, thu nhập, và các vấn đề xã hội của người di cư ở góc độ giới được nhìn nhận và phân tích.

Báo cáo của Viện CIEM cũng đề xuất chính sách nhằm lồng ghép các yếu tố giới trong tái cơ cấu kinh tế, nhấn mạnh đến hạ tầng (cả cứng và mềm) đối với các địa phương tiếp nhận lao động di cư và cả địa phương có lao động xuất cư.

TS. Minh lưu ý, những ý kiến tranh biện về kịch bản diễn biến giá cả và yêu cầu kiểm soát lạm phát trong những tuần vừa qua phản ánh sự quan tâm của Chính phủ, các bộ, ngành và doanh nghiệp. Chính phủ tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, trên tinh thần đơn giản hóa điều kiện tiếp cận để các nhóm này trụ vững qua thời kỳ khó khăn.

Cần nhắc lại rằng, sự quyết liệt với cải cách của Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Viện CIEM cũng vinh dự đại diện Việt Nam dẫn dắt quá trình xây dựng Chương trình Nghị sự mở rộng của APEC về cải cách cơ cấu giai đoạn 2021-2025, được các Bộ trưởng cải cách cơ cấu của APEC thông qua vào tháng 6/2021 này.