12:56 16 Tháng Mười 2018
Máy bay ném bom của Không quân Mỹ F-105 Tanderchif bị tên lửa phòng không S-75 của Việt Nam bắn hạ

Phát bắn thần kỳ của tên lửa Việt Nam: Hạ 2 máy bay Mỹ bay cao nhất trên tầng bình lưu

© Ảnh : Public domain
Vũ khí
URL rút ngắn
0 30

Ngày 27/7/1965, KQ Mỹ tung 50 máy bay, trong đó có 36 "Thần sấm" F-105 tập kích để phá hủy các trận địa tên lửa Việt Nam, nhưng họ không ngờ là đã rơi vào bẫy phục kích của ta.

LTS: Trong trong cuộc chiến tranh chống phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc, Bộ đội tên lửa Việt Nam đã lập nhiều chiến công xuất sắc và có những trận đánh hết sức đặc biệt.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc các bài viết của Đại tá Nguyễn Thụy Anh về một số trận đánh độc đáo mà với những "phát bắn thần kỳ", Bộ đội tên lửa Việt Nam đã hạ gục uy danh của Không quân Mỹ.

Kỳ 1: Phát bắn thần kỳ của tên lửa Việt Nam — Hạ mục tiêu bay cao nhất trên tầng bình lưu

Từ không thể…

Sau Thế chiến 2, ở các nước phương Tây dòng máy bay phản lực xuất hiện và phát triển rất nhanh với tốc độ vượt âm và bay ở độ cao mà pháo cao xạ (PCX) cỡ nòng lớn nhất cũng không bắn tới nếu các phản lực cơ này áp dụng phương pháp bay bằng ném bom ở tầng bình lưu (độ cao từ 10 km trở lên).

Cụ thể như các máy bay phản lực chiến thuật thế hệ đầu của Mỹ loại F-86, A-4 đã có thể đạt độ cao tối đa 15 km; loại F-101 đạt 16 km và F-104 đạt 20 km… Lúc đó có 2 loại mục tiêu gây lo ngại cho ban lãnh đạo Liên Xô là máy bay ném bom chiến lược B-52 mang bom hạt nhân (trần bay 16 km) và máy bay trinh sát tầm cao U-2 (trần bay 24 km).

Tên lửa của Liên Xô S-75 Dvina
Tên lửa của Liên Xô S-75 "Dvina"

Như vậy là khi B-52 bay bằng để ném bom thì sẽ vượt quá tầm bắn của các loại PCX thông dụng cỡ 37mm và 57mm, kể cả pháo 100mm với hiệu quả diệt mục tiêu dưới 10 km, chưa kể đến số lượng đạn phải dùng sẽ rất nhiều do độ tản mát lớn.

Tỷ lệ đạn PCX để diệt 1 máy bay cánh quạt trong Thế chiến 2 trung bình là 800 viên và theo tính toán đối với 1 máy bay phản lực sẽ là 2.100 viên…

Nhiệm vụ vô cùng khó khăn của hệ thống phòng không quốc gia Liên Xô là phải đánh chặn với xác suất cao nhất tất cả các mục tiêu bay ở độ cao lớn, đặc biệt là các loại oanh tạc cơ mang bom hạt nhân để bảo đảm an toàn cho lãnh thổ Xô Viết.

Tính năng của các loại PCX đã bị giới hạn và do đó cần phải có loại vũ khí mới đáp ứng cho yêu cầu này.

Trong tình hình ấy, các tổ hợp tên lửa phòng không (TLPK) có điều khiển đã ra đời và được thiết kế trước hết để đối phó với các loại phản lực cơ bay cao từ 10 km trở lên (trong đó có loại B-52 với số lượng hàng trăm chiếc của KQ Mỹ được coi là đối tượng chính).

Loại TLPK đầu tiên của LX là S-75 (SAM-2) được thiết kế để bắn máy bay tới độ cao 27km và đối với khinh khí cầu là 30 km, tuy vậy độ cao thấp nhất để diệt mục tiêu cũng là 300 m (sau cải tiến là 100 m).

Trong điều kiện mục tiêu bay bằng và không có nhiễu, theo Quy tắc bắn TLPK thì khi phóng 3 tên lửa sẽ đạt xác suất diệt mục tiêu 0,96 (tức là vẫn có sai số trượt 0,04).

Một chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng nữa ít được nhắc tới đối với tên lửa S-75 là mục tiêu phải có diện tích phản xạ radar lớn hơn 1m2. Ví dụ đối với loại cường kích A-6, A-7 là 3 m2; tiêm kích-bom F-4 là 6-8 m2 tùy biến thể… thì đài radar trinh sát và đài điều khiển tên lửa mới có thể phát hiện và bám sát được mục tiêu ở cự ly đủ để phóng tên lửa tiêu diệt nó.

Chiến công đầu nổi bật của S-75 là bắn hạ 1 chiếc U-2 của Mỹ ở độ cao 68.000 ft (20.720m) vào ngày 1.5.1960 khi chiếc máy bay này xâm phạm vùng trời LX.

Nhưng trên chiến trường, lần đầu tiên TLPK được sử dụng rộng rãi và với số lượng lớn nhất là ở Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc vào thời kỳ 1965-1973.

C-130 Hercules
© Flickr / US Air Force
C-130 Hercules

… đến có thể

Chiến trường VN là nơi bộ máy chiến tranh Mỹ thử nghiệm rất nhiều loại vũ khí mới và hiện đại nhất vừa phát minh ra, 1 trong số đó phải kể đến là máy bay không người lái (UAV) mà trước đó chưa hề xuất hiện ở bất cứ nơi đâu với mục đích quân sự.

UAV của KQ Mỹ khi đó có thể bay với tốc độ khá cao, từ 700 tới 1.200 km/h, tức là vẫn nhanh hơn nhiều so với máy bay cánh quạt trong Thế chiến 2 vốn chỉ đạt tốc độ cao nhất là 700 km/h và ở độ cao rất lớn (tới 20 km) hoặc rất nhỏ (dưới 500 m).

Các loại UAV do kích thước nhỏ hơn các chiến đấu cơ có người lái nên diện tích phản xạ radar cũng nhỏ hơn và khi bay ở độ cao lớn thì tín hiệu càng nhỏ, rất khó phát hiện hoặc khi bay thấp thì lại dễ bị lẫn vào phản xạ địa vật, không thể phát hiện được từ xa.

Nếu cự ly phát hiện mục tiêu quá gần thì kíp chiến đấu sẽ không đủ thời gian thao tác để phóng tên lửa…

Thời kỳ đầu khi bộ đội Việt Nam chưa có tên lửa, UAV thường bay cao hơn 10 km để tránh hỏa lực của PCX cũng như các loại vũ khí cỡ nhỏ và hầu như không bị tổn thất.

Ngày 24/7/1965, khi nghi ngờ không rõ tốp máy bay F-4 của mình bị loại vũ khí phòng không nào bắn hạ ở độ cao 7 km tại Suối Hai, Hà Tây (nay là Hà Nội), hôm sau KQ Mỹ đã liên tiếp cho 1 UAV loại BQM-34 bay ở độ cao 18 km và 1 máy bay trinh sát có người lái RF-101 vào do thám khu vực trận địa.

​Máy bay vận tải C-130 mang theo 2 UAV BQM-34.

Nếu ở khu vực đó chỉ có PCX thì sẽ không loại pháo nào có thể bắn tới tới độ cao ấy, nhưng cả 2 chiếc máy bay này đã bị bắn rơi ngay tại chỗ và hiển nhiên người Mỹ hiểu là chỉ do tên lửa gây ra mà thôi…

KQ Mỹ quyết định cho 50 máy bay các loại, trong đó có 36 chiếc "Thần sấm" F-105 tối tân khi đó tập kích để phá hủy các trận địa tên lửa mà họ đã chụp ảnh được. Nhưng không ngờ là KQ Mỹ đã rơi vào bẫy phục kích đón sẵn của lực lượng phòng không nhân dân VN.

Trên trận địa cũ chỉ là các "racót", tức là tên lửa giả làm bằng cót của bộ đội ta, còn xung quanh là một rừng cao xạ và súng máy phòng không cùng lưới lửa súng bộ binh của dân quân tự vệ (DQTV) Hà Tây.

Ngày 27/7, các máy bay Mỹ bay thấp từ nhiều hướng ồ ạt tấn công vào 2 trận địa tên lửa của VN nhưng chẳng phá được quả tên lửa nào mà còn bị lực lượng phòng không ta bắn hạ thêm 5 máy bay (gồm 4 chiếc F-105 và 1 chiếc AD-6) chỉ sau hơn 1 giờ chiến đấu ác liệt…

Ngày 7/2/1966, Tiểu đoàn tên lửa 84, E238 lại lập công xuất sắc khi bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay không người lái BQM-34 đang bay ở độ cao 20 km trên tầng bình lưu. Xác máy bay này đã được đưa về để Bác Hồ xem khi Người đến thăm Quân chủng PK-KQ và đây chính là loại mục tiêu bay cao nhất của KQ Mỹ bị tên lửa VN bắn rơi trong KCCM.

Hơn 8 tháng sau, 5 chiếc BQM-34 bay vào trinh sát miền Bắc từ nhiều hướng và ở các độ cao khác nhau đã bị tên lửa VN bắn rơi tại chỗ 3 chiếc…

Bác Hồ xem xác máy bay UAV tại Bộ tư lệnh PK-KQ.
Bác Hồ xem xác máy bay UAV tại Bộ tư lệnh PK-KQ.

Theo số liệu tổng kết chiến đấu, trong 6 tháng đầu năm 1968, có 21 chiếc UAV của Mỹ bị hạ, đến cuối năm, máy bay tiêm kích miền Bắc lại bắn rơi 7 chiếc UAV loại 147-J, tên lửa và cao xạ bắn rơi thêm 11 chiếc khác.

Sang năm 1969, bộ đội ta càng nhiều kinh nghiệm hơn trong lĩnh vực này nên có tuần cả lực lượng phòng không chủ lực và DQTV đã bắn rơi 6 chiếc UAV bay cả ở độ cao lớn và độ cao thấp dưới 500m…

Tuy lợi hại nhưng UAV vẫn có những yếu điểm không tránh được như luôn bay theo chương trình nhất định, tốc độ không lớn và không có khả năng cơ động như máy bay có người lái, hệ thống điều khiển dễ bị gây nhiễu… nên các chiến sĩ VN đã áp dụng sáng tạo nhiều biện pháp kỹ thuật và chiến thuật để đối phó hiệu quả với loại máy bay này.

Vấn đề khó nhất là làm sao phát hiện thời điểm địch bất ngờ phóng UAV đã được bộ đội ta khắc phục bằng cách theo dõi chặt chẽ hoạt động của loại máy bay C-130 chuyên mang, phóng UAV rồi nhanh chóng thông báo cho các lực lượng ta bố trí ở hướng đó và chúng khó mà thoát được.

Lầu Năm Góc thừa nhận là họ bị mất tới 350 UAV trong chiến tranh VN và giải thích rằng trong số đó có "rất nhiều chiếc bị rơi vì trục trặc kỹ thuật hoặc không rõ nguyên nhân"…

Thế là dù bay cao tận 20 km trên tầng bình lưu hay bay sát mặt đất theo bề mặt địa hình phức tạp thì các loại UAV tối tân của KQ Mỹ đều bị lưới lửa phòng không thiên la, địa võng của VN bắn rụng như sung.

Các tướng lĩnh phương Tây khi đưa quân đi xâm lược các nước nhỏ yếu thì đều dựa vào ưu thế binh lực mạnh và vũ khí hiện đại hơn.

Họ cho rằng đối phương sẽ không thể đối phó được với các loại vũ khí, trang bị tối tân nhất của phương Tây hoặc chỉ cầm cự được trong thời gian ngắn vì không đủ tiềm lực chiến đấu lâu dài (như không đủ đạn dược, xăng dầu, quân số và vũ khí ít hơn…).

Nhưng họ không ngờ rằng các chiến sĩ và nhân dân VN đã rất kiên cường hy sinh chiến đấu, sáng tạo ra nhiều biện pháp, kể cả thô sơ và hiện đại để vô hiệu hóa các loại vũ khí tối tân của họ.

Dù có bao loại vũ khí hiện đại và ưu thế hơn hẳn ở chiến trường VN thì chính họ lại bị sa lầy vào 1 cuộc chiến phi nghĩa, không thể đánh nhanh thắng nhanh theo kiểu của mình, lúng túng không đối phó nổi với kiểu chiến tranh nhân dân rộng khắp của chúng ta và cuối cùng đành phải chịu thất bại như bao đội quân xâm lược khác trong lịch sử ngàn năm đất Việt.

Đại tá Nguyễn Thụy Anh — Cục Khoa học Quân sự / BTTM

Theo: Thời Đại

Tin bài liên quan:

Tuyên bố chấn động của Tổng thống Mỹ về chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Việt Nam: “Tôi đã nói với Tổng thống, Sài Gòn sẽ thất thủ sau hai tuần nữa”
Thủy thủ Mỹ đã nhìn và thấu hiểu nỗi đau chiến tranh Việt Nam (Ảnh)
Từ khóa:
Hercules C-130, S-75 "Dvina", Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tiêu chuẩn cộng đồngThảo luận
Bình luận trên FacebookBình luận trên Sputnik