20:37 16 Tháng Tám 2018
Lính thủy Mỹ trong khu vực chiến sự. Chiến tranh Việt Nam, năm 1967

Công bố hồ sơ mật phòng không Việt Nam: "Chồn hoang" bị sa vào bẫy

© AP Photo /
Vũ khí
URL rút ngắn
0 0 0

Chính “Các thợ săn” (“Chồn Hoang”- F-100F Wild Weasel-ND) của Mỹ lại thường xuyên trở thành con mồi của hệ thống phòng không Việt Nam.

Cụ thể, ngày 20/12, trong một chuyến xuất kích tác chiến thường lệ, "Chồn hoang" đã bị sa vào bẫy. Chiếc F-100F Wild Weasel bay kèm tốp 4 chiếc F-105D được 2 biên đội F-4C hộ tống đã phát hiện được một đài radar đang phát sóng và xác định đây là trạm dẫn đường tên lửa SNR — 75 (tiếng Nga- СНР-75).

Sau khi thực hiện một số động tác cơ động giảm độ cao nhằm cắt đuôi MiG, "Thợ săn radar" đã sa vào bẫy hỏa lực tập trung của pháo phòng không 37 ly Bắc Việt chờ sẵn và bị bắn hạ.

Cũng nên nói cho công bằng là việc chế tạo máy bay chuyên dụng từ "Super Cobra" để đối phó với các radar của phòng không Bắc Việt là một giải pháp không phải là tối ưu. Kiểu máy bay tiêm kích này có dung tích bên trong khoang máy bay không đủ lớn để chứa nhiều các trang thiết bị chuyên dụng, trọng lượng tác chiến hạn chế và bán kính hoạt động không lớn nếu được sử dụng để tấn công.

Ngoài ra, tốc độ F-100 còn kém tốc độ của máy bay tiêm kích- ném bom F-105. Do vậy nên máy bay tiêm kích- ném bom F-100 tuy được sử dụng nhiều trong thời kỳ đầu Chiến tranh Việt Nam để tấn công các trận địa của Quân du kích ở Miền Nam, nhưng đến đầu những năm 70 chúng đã được thay thế bằng các máy bay chiến đấu khác mang trọng lượng tác chiến lớn hơn.

Năm 1966, Wild Weasel II (Chồn hoang II) cải hoán từ máy bay huấn luyện F-105F Тhunderchief được đưa vào tham chiến. "Các chồn hoang " thế hệ mới mang tên lửa chống radar AGM-45 Shrike — đây là kiểu tên lửa mới được giới tướng lĩnh Mỹ đặt rất nhiều kỳ vọng.

 Tên lửa "Shrike" được dẫn đến mục tiêu bằng sóng của các radar đang làm việc. Nhưng tên lửa này cũng có một loạt nhược điểm, quan trọng nhất là tầm bắn của nó kém tên lửa phòng không có điều khiển V-750V của SA-75M.

Ngoài tên lửa "Shrike", dưới thân F-105 F Wild Weasel II còn có các bom chùm CBU-24. Thêm nữa, Wild Weasel II còn được trang bị đài phát nhiễu chủ động và những thiết bị trinh sát vô tuyến kỹ thuật rất hiện đại.

Các "thợ săn radar" thường bay cùng đội hình với các máy bay F-105G, — những F-105G này, sau khi trạm radar dẫn đường bị phá hủy bằng tên lửa chống radar của "Thợ săn radar", sẽ lao vào không kích trận địa của các tiểu đoàn phòng không bằng bom bộc phá và bom chùm.

Thường thì các trận địa tên lửa phòng không bị phát hiện sau khi "Chồn hoang" bắt đầu bám sóng các đài radar dẫn đường, hoặc là thậm chí sau khi tên lửa phòng không đã được phóng lên.

Như vậy, trên thực tế, "thợ săn radar" giữ vai trò mồi nhử. Sau khi phát hiện được tên lửa đã phóng, phi công lái "Thợ săn radar" hướng thẳng máy bay về phía tên lửa và đến thời điểm cuối cùng mới thực hiện một số động tác cơ động đột ngột để tránh tên lửa.

Khi chỉ còn vài giây trước khi tên lửa lao vào máy bay, phi công cho máy bay bổ nhào xuống phía dưới tên lửa và bay vòng, thay đổi độ cao và hướng bay với độ quá tải tối đa. Nếu may mắn, tên lửa sẽ bay sượt qua máy bay.

 

Tên lửa chống radar Shrike của không quân Mỹ
© Sputnik / RIA Novosti
Tên lửa chống radar Shrike của không quân Mỹ

Nhưng nếu như có một vài động tác sai sót dù rất nhỏ, các mảnh (đầu tác chiến) của tên lửa sẽ văng trúng ca bin máy bay. Để thực hiện các động tác cơ động kiểu như vậy, phi công phải có trình độ — kỹ thuật bay điêu luyện và phải rất dũng cảm.

Theo hồi ký của các phi công Mỹ, các đòn tấn công tên lửa bao giờ cũng tạo ra một hiệu ứng tâm lý rất mạnh đối với các phi công. Trong tình huống " đấu súng tay đôi" giữa các khẩu đội tên lửa phòng không Bắc Việt và phi công "Chồn hoang" Mỹ, người chiến t hắng luôn là người được huấn luyện tốt hơn và có tâm lý vững vàng hơn.

Để đối phó với các thợ săn radar của Không quân Mỹ, các chuyên gia Xô Viết khuyến cáo Bộ đội phòng không Việt Nam tiến hành triển khai các trận địa phòng không sau khi đã làm rất kỹ công tác chuẩn bị trận địa.

Làm thêm các trận địa giả và trận dịa dự bị, sử dụng pháo phòng không để bảo vệ các trận địa tên lửa. Để loại trừ khả năng làm lộ vị trí bố trí các tiểu đoàn tên lửa phòng không, Bộ Tư lệnh Việt Nam các đơn vị cấm không được bật máy các radar dẫn đường, radar quan sát, máy đo xa và các đài liên lạc vô tuyến.

Không quân Mỹ đã giành được một chiến thắng cực kỳ ấn tượng vào ngày 13/2/1966. Trong ngày này, dù nhiều tên lửa phòng không được phóng lên nhưng vẫn không hạ được một máy bay trinh sát không người lái AQM-34Q Firebee được trang bị các thiết bị trinh sát vô tuyến kỹ thuật tối tân.

Kết quả là chiếc máy bay trinh sát này đã thu thập được các thông tin về hoạt động của hệ thống dẫn đường tên lửa và cơ chế làm việc của ngòi nổ vô tuyến trên đầu tác chiến tên lửa.

Sauk hi phân tích kỹ các thông tin và dữ liệu có được, Không quân Mỹ đã áp dụng ngay các biện pháp tổ chức và kỹ thuật để đối phó với tên lửa phòng không Bắc Việt. Hiệu quả sử dụng tên lửa phòng không giảm đột ngột.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tuy Mỹ đã mất tới 578 chiếc máy bay trinh sát không người lái AQM-34, nhưng theo các tướng lĩnh và báo chí Mỹ thì những dữ liệu mà các máy bay này thu thập được về các tổ hợp phòng không Xô Viết, nếu tính theo giá trị, đã hoàn lại toàn bộ vốn cho chương trình sử dụng máy bay trình sát không người lái Mỹ.

Các máy bay của Không quân và Hải quân Mỹ được lắp thêm container phát nhiễu chủ động.

Đến cuối năm 1967, người Mỹ bắt đầu phát nhiễu phá sóng các kênh tên lửa. Khi máy bay Mỹ phát nhiễu, các radar dẫn đường không còn nhìn thấy tên lửa nên tên lửa bay ở chế độ tự lái cho đến khi hệ thống tự hủy kích hoạt.

Và như vậy, hiệu suất tác chiến của các tổ hợp tên lửa phòng không SA-75M giảm mạnh và lúc này, để tiêu diệt một mục tiêu, cần phải sử dụng tới 10-12 quả đạn tên lửa phòng không có điều khiển. Trận đánh thành công nhất của người Mỹ là trận không kích Hà Nội ngày 15/12/1967.

Trong trận này, Không quân Mỹ đã sử dụng phương pháp làm mù vô tuyến điện tử (gây nhiễu rãnh đạn tên lửa) vô hiệu hóa toàn bộ gần 90 quả đạn tên lửa phòng không VN trong khi không mất một máy bay nào.

Nhưng không lâu sau đó, Bộ đội tên lửa Việt Nam đã tìm ra cách đối phó bằng cách hiệu chỉnh lại tần số làm việc và tăng công suất tín hiệu trả lời của đạn.

Tên lửa cũng được cải tiến, cự ly tiêu diệt mục tiêu tối thiểu giảm xuống còn 5 km Để hạn chế khả năng bị tổn thương trước tên lửa AGM-45 Shrike, khí tài radar SNR-75 cũng được cải tiến, thời gian phản ứng của khí tài radar này chỉ còn không đến 30 giây. Những tên lửa phòng không mới được chuyển về từ Liên Xô đã được lắp đầu tác chiến có bán kính sát thương lớn hơn cho phép tăng xác xuất tiêu diệt mục tiêu.

Từ tháng 11/1967, các khẩu đội tên lửa phòng không bắt đầu áp dụng phương pháp bám mục tiêu không cần bật SNR-75- phương pháp này đã đem lại những kết quả không tồi.

Tiếp theo đó, các khẩu đội SA-75M lại chuyển sang sử dụng các kính quang học chỉ huy dã chiến (nguyên văn- kính tiềm vọng-ND) lắp trên các cabin "P" và được kết nối với các khối điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không để để bám mục tiêu bằng mắt thường.

Trong nhiều trường hợp, các khẩu đội thực hiện các động tác "giả phóng tên lửa " — tức bật radar dẫn đường ở một chế độ thích hợp nhưng không phóng tên lửa.

Khi đó hệ thống tín hiệu trong cabin của máy bay tiêm kích- ném bom phát tín hiệu thông báo cho phi công biết là tên lửa phòng không đối phương đang nhằm vào máy bay.

Thường thì trong trường hợp này, phi công Mỹ sẽ trút hết bom và thực hiện các động tác cơ động để tránh tên lửa và vì thế tự đưa mình vào vùng sát thương của hỏa lực pháo phòng không.

Xe mang phóng tự hành (TELAR) 3P51 của tổ hợp Rubezh được tích hợp đài radar dẫn bắn Harpoon cùng 2 ống phóng KT-161 của tên lửa P-15 Termit
© Ảnh :
Xe mang phóng tự hành (TELAR) 3P51 của tổ hợp Rubezh được tích hợp đài radar dẫn bắn Harpoon cùng 2 ống phóng KT-161 của tên lửa P-15 Termit

Phương pháp " giả phóng tên lửa" này sẽ đạt được hiệu quả cao nhất trong trường hợp các máy bay Mỹ đang có mặt trên khu vực có mục tiêu- lúc đó thì các phi công máy bay chiến đấu Mỹ ngay lập tức sẽ không còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện tấn công một cách chính xác mục tiêu được phân công trên mặt đất.

Để đối phó với các máy bay chiến đấu Mỹ thâm nhập ở độ cao thấp, vào năm 1967. Bộ đội phòng không Việt Nam nhận và đưa vào trực chiến các radar P-15 lắp trên xe ZIL-157.

 Cùng với radar P-15, Bộ đội phòng không Bắc Việt cũng được trang bị thêm radar phát sóng liên tục P-35 và máy đo cao PRV-11- những radar này cũng được sử dụng để dẫn đường cho các máy bay tiêm kích. Tổng cộng, đến năm 1970, VNDCCH đã được Liên Xô chuyển giao hơn 100 radar.

Tháng 6/1972, các dân quân du kích rà soát tại khu vực một máy bay Mỹ bị bắn rơi bằng vũ khí hạng nhẹ tại ngoại thành Hà Nội. Viên phi công đã bay sát ngọn cây để né tránh radar, nhưng các máy bay hoạt động ở độ cao đó dễ dàng trở thành mục tiêu của các loại vũ khí nhẹ.
Tháng 6/1972, các dân quân du kích rà soát tại khu vực một máy bay Mỹ bị bắn rơi bằng vũ khí hạng nhẹ tại ngoại thành Hà Nội. Viên phi công đã bay sát ngọn cây để né tránh radar, nhưng các máy bay hoạt động ở độ cao đó dễ dàng trở thành mục tiêu của các loại vũ khí nhẹ.

Ngoài việc tăng cường khả năng chiến đấu cho Không quân, Bộ đội tên lửa phòng không và các đơn vị vô tuyến kỹ thuật, trong giai đoạn này số lượng pháo phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng tăng rất đáng kể.

Chỉ sau một năm kể từ khi Không quân Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đường không quy mô lớn trên lãnh thổ Bắc Việt Nam, đã có hơn 2.000 khẩu pháo phòng không cỡ nòng từ 37 đến 100 ly tham gia các trận đánh trả máy bay Mỹ, và cũng trong thời gian đó Liên Xô và Trung Quốc liên tục bổ sung cho Việt Nam môt số lượng lớn pháo phòng không.

Bộ đội Bắc Việt thường bố trí các đại đội phòng không trang bị pháo 85 và 100 ly quanh thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng với nhiệm vụ chủ yếu là bắn chặn, còn các đơn vị pháo 37 và 57 ly có tốc độ bắn nhanh hơn, khả năng cơ động tốt hơn được sử dụng để bảo vệ cầu, kho, kho chứa nhiên liệu sân bay, trận địa tên lửa phòng không và đài radar quan sát.

Rất nhiều pháo phòng không được bố trí dọc theo "Đường mòn Hồ Chí Minh". Để bảo vệ các đoàn xe chở quân và xe vận tải, Bộ đội Việt Nam sử dụng súng máy phòng không 12,7 ly và 14,5 ly lắp trên thùng các xe tải để cơ động cùng các đoàn xe.

Vào cuối những năm 60, Quân đội Việt Nam bắt đầu được trang bị pháo phòng không tự hành (ZSU) Type 63 Trung Quốc. Kiểu pháo tự hành này được Trung Quốc chế tạo bằng cách thay tháp pháo tăng T-34-85 bằng tháp pháo phòng không 37 ly hai nòng B-37.

Kiểu pháo phòng không có cự ly và độ cao tiêu diệt mục tiêu lớn hơn cả là tổ hợp pháo phòng không tự hành Xô Viết ZSU-57-2 lắp trên khung gầm tăng T-54. Pháo tự hành này được lắp pháo hai nòng 57 ly S-69.

Nói chung, nhược điểm chủ yếu của pháo phòng không tự hành cả của Trung Quốc lẫn Liên Xô là không có thiết bị ngắm bắn radar nên độ chính xác khi bắn không cao và nói chung pháo tự hành 37 và 57 ly chủ yếu thực hiện vụ bắn chặn.

Tuy nhiên, những kiểu pháo này cũng đã giữ một vai trò rất quan trọng- chúng (hất) các máy bay Mỹ lên cao (để tên lửa phòng không "xử lý") và buộc máy bay Mỹ phải cắt bom ở độ cao lớn và vì thế làm giảm rất mạn hiệu quả của các đợt ném bom đánh phá mục tiêu.

Cũng phải nhấn mạnh rằng mặc dù trong các công trình nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam của Liên Xô (trước đây), Nga cũng như của nhiều nước khác thì khi đề cập đến cuộc đối đầu giữa hệ thống phòng không VNDCCH và Không quân Mỹ, các tác giả thường tập trung sự chú ý vào vấn đề sử dụng các tổ hợp tên lửa phòng không và máy bay tiêm kích Bắc Việt trong cuộc chiến, trong khi trên thực tế gánh nặng phòng không chủ yếu vẫn đặt lên vai lực lượng pháo phòng không.

Chính pháo phòng không Bắc Việt đã bắn hạ 2/3 trong tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi trong cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Trong hơn 3 năm tiến hành các cuộc tấn công đường không quy mô lớn vào Bắc Việt Nam,- Không quân, Không quân hải quân và Không quân Quân đoàn lĩnh thủy đánh bộ Mỹ đã mất tổng cộng 3.495 máy bay các loại.

Do phải chịu tổn thất ngày càng tăng và bị phản đối mạnh mẽ, vào tháng 3/1968, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán hoà bình với VNDCCH tại Paris- cuộc chiến tranh đường không vào lãnh thổ VNDCCH (lần thứ nhất) tạm thời kết thúc.

Theo: Báo Đất Việt

Tin bài liên quan:

Những "độc chiêu" du kích trong chiến tranh ở Việt Nam (Video)
Kinh nghiệm xương máu của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam
Không phải Shrike, đây mới là tên lửa chống radar nguy hiểm nhất chiến tranh Việt Nam
Người Mỹ tiết lộ những lợi thế của AK-47 trước M16 trong Chiến tranh Việt Nam
Từ khóa:
F-111, F-105 thần sấm, AGM-45 Shrike, Chính phủ VNDCCH, Việt Nam, Hoa Kỳ
Tiêu chuẩn cộng đồngThảo luận
Bình luận trên FacebookBình luận trên Sputnik