12:11 31 Tháng Bảy 2021
Chính trị
URL rút ngắn
0 0
Theo dõi Sputnik trên

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin, ông chủ Lầu Năm Góc sẽ là đại diện cấp cao đầu tiên từ chính quyền Tổng thống Joe Biden đến thăm Việt Nam và Đông Nam Á trong bối cảnh cạnh tranh chính trị ngày Mỹ - Trung ngày càng lớn ở khu vực.

Dự kiến Bộ trưởng Quốc phòng Austin sẽ thăm Singapore, Việt Nam, Philippines, khẳng định tầm quan trọng của Đông Nam Á và ASEAN với chính sách đối ngoại của Mỹ và cam kết về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do cởi mở.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin sắp thăm Việt Nam

Tin tức việc Lloyd James Austin III, ông chủ Lầu Năm Góc, Bộ trưởng Quốc phòng thứ 28 của Hoa Kỳ, một tướng bốn sao của Quân đội Mỹ sắp thăm Việt Nam thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận quốc tế.

Theo đó, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin sẽ có chuyến thăm đến Singapore, Việt Nam và Philippines từ cuối tuần này, Thư ký báo chí Lầu Năm Góc John Kirby thông báo hôm thứ Hai.

Cần nhấn mạnh, đây là chuyến thăm Đông Nam Á đầu tiên của một trong số các nhân vật hàng đầu trong nội các của chính quyền Tổng thống Biden.

Khởi hành vào thứ Sáu, ông Austin sẽ dừng lại ở Alaska trước khi đến khu vực này. Tại Singapore, người đứng đầu Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sẽ phát biểu tại một sự kiện do Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) tổ chức.

Cơ hội hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đang tăng lên khi Hà Nội ngày càng quan ngại trước các hành vi của Bắc Kinh trong khu vực.

Washington đã dỡ bỏ các hạn chế còn lại đối với việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam vào năm 2016 dưới thời Tổng thống Barack Obama, đồng thời cung cấp tàu tuần tra và ký kết thỏa thuận cung cấp máy bay không người lái kể từ khi đó. Một tàu sân bay Mỹ năm 2018 đã đến thăm Việt Nam lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975.

Hải quân Hoa Kỳ có một đơn vị chỉ huy hậu cần ở Singapore, nơi lực lượng này triển khai các tàu và máy bay trinh sát để tuần tra Biển Đông.

Phía sau chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tới Việt Nam và Đông Nam Á

Cộng đồng quốc tế tin rằng, chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Lloyd James Austin đến Việt Nam và các đối tác, đồng minh của Hoa Kỳ ở ASEAN cho thấy rất nhiều vấn đề.

Thứ nhất là tầm quan trọng của Việt Nam và ASEAN trong chính sách đối ngoại, an ninh quốc phòng của chính quyền Tổng thống Joe Biden trong bối cảnh biến động chính trị khu vực ngày càng phức tạp.

“Chuyến thăm của Bộ trưởng Austin sẽ chứng tỏ tầm quan trọng của Đông Nam Á và ASEAN đối với chính quyền Biden-Harris như một phần thiết yếu không thể tách rời trong tổng thể kiến trúc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Chuyến công du sẽ nhấn mạnh cam kết lâu dài của Hoa Kỳ đối với khu vực và lợi ích của chúng tôi trong việc duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ trong khu vực và thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN”, Thư ký báo chí, phát ngôn viên Lầu Năm Góc tuyên bố.

Thứ hai, sự hiện diện của Bộ trưởng Austin (dù sẽ khiến chính quyền Trung Quốc “quan ngại”) nhưng là minh chứng rõ ràng nhất cho những cam kết của Washington về quyết tâm duy trì chính sách tự do hàng hải ở Biển Đông cũng như kiềm chế tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh trong khu vực. Điều này phản ánh thế đối đầu, cạnh tranh chiến lược về địa chính trị Mỹ - Trung ngày càng tăng.

Tướng Lục quân Lloyd J. Austin III, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm Hoa Kỳ
© AP Photo / J. Scott Applewhite
Tướng Lục quân Lloyd J. Austin III, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm Hoa Kỳ
“Với những căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ âm ỉ ở Biển Đông khi Bắc Kinh đang tăng cường mở rộng phạm vi hoạt động, Washington hy vọng sẽ hợp tác với các nước trong khu vực để có cách tiếp cận thống nhất hơn đối với chính sách của Trung Quốc”, Nikkei đánh giá.

Ông Kurt Campbell, điều phối viên khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, cho rằng để có một chiến lược châu Á thích hợp, một cách tiếp cận Ấn Độ - Thái Bình Dương hiệu quả, sẽ còn nhiều việc phải làm hơn nữa với các quốc gia đối tác của Mỹ ở Đông Nam Á.

Với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Austin đã đến châu Âu hai lần để tăng cường mối quan hệ với các đồng minh ở đó. Ông cũng đã đến thăm Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ nhưng vẫn chưa đến Đông Nam Á. Ông từng dự định sẽ tham dự Đối thoại Shangri-La của IISS ở Singapore vào tháng trước, nhưng sự kiện này đã bị hủy bỏ vào phút cuối vì đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh trở lại.

“Phía Trung Quốc tận dụng sự vắng bóng của đại diện chính quyền Washington, đã và phô trương lực lượng của mình ở Đông Nam Á để khẳng định các tuyên bố chủ quyền trên biển Đông”, Nikkei cho biết.

Các tàu Trung Quốc đã thả neo trong vùng biển mà Philippines tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình. Lực lượng không quân của Malaysia hồi tháng 5 đã điều khiển máy bay phản lực để đối phó với một cuộc xâm nhập rõ ràng của Trung Quốc vào không phận của mình. Trong khi đó, Việt Nam tiếp tục phản đối Bắc Kinh về vấn đề quyền khai thác dầu khí ở Biển Đông.

Đối với Hoa Kỳ, cải thiện quan hệ với Manila sẽ là chìa khóa cho sự xoay trục chính sách Đông Nam Á của họ.

Tháng trước, chính phủ Philippines một lần nữa tránh đưa ra quyết định cuối cùng về việc duy trì hay chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng nhằm cung cấp khuôn khổ pháp lý cho sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại nước này. Tổng thống Rodrigo Duterte đã hủy bỏ thỏa thuận vào tháng 2 năm 2020 nhưng đã ba lần đình chỉ việc chính thức chấm dứt thỏa thuận.

Chính quyền Tổng thống Biden hy vọng sẽ thuyết phục được Manila giữ nguyên thỏa thuận. Theo những gì một số nhà quan sát coi là động thái để đạt được mục tiêu này, Bộ Ngoại giao vào cuối tháng 6 đã phê duyệt 2,6 tỷ USD cho các thỏa thuận vũ khí được đề xuất với Philippines, bao gồm cả việc bán máy bay chiến đấu F-16, như một cái gật đầu với việc chính quyền Duterte thúc đẩy hỗ trợ quốc phòng từ Washington.

Lực lượng Mỹ ở Philippines được giao nhiệm vụ chủ yếu trong các hoạt động chống khủng bố và vẫn chưa phải là biện pháp răn đe hiệu quả chống lại Trung Quốc.

Thiết lập sự hiện diện mạnh mẽ hơn ở Biển Đông là trọng tâm của cuộc rà soát vị thế lực lượng toàn cầu mà chính quyền Biden dự định sẽ hoàn thành vào mùa thu này.

“Quân đội Mỹ có vẻ sẽ dàn trải lực lượng của mình để khiến họ ít bị tổn thương hơn trước một cuộc tấn công bằng tên lửa của Trung Quốc và có khả năng sẽ tìm cách mở rộng khả năng tiếp cận các cơ sở quân sự ở Philippines cho mục đích này”, truyền thông Nhật Bản đánh giá.

Hợp tác quốc phòng Việt Nam - Mỹ chưa bao giờ mạnh mẽ đến thế

Hợp tác an ninh Việt – Mỹ chưa bao giờ mạnh mẽ và tích cực như những năm gần đây. Kể từ thời Trump đến chính quyền Biden – Harris đương nhiệm, Washington luôn khẳng định coi trọng quan hệ với Hà Nội và mong muốn nâng tầm hợp tác hơn nữa.

Như Sputnik Việt Nam đã đưa tin, hôm 13/7 vừa qua, Ứng viên Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam do Tổng thống Joe Biden chỉ định Marc Knapper có phiên điều trần tại Thượng viện, nêu ra các ưu tiên đặc biệt trong phát triển quan hệ Việt – Mỹ.

Tại đây, phát biểu trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, ông Knapper cho rằng mối quan hệ giữa Washington và Việt Nam đã trải qua sự “chuyển biến sâu sắc” kể từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1995. Theo đó, Việt Nam và Mỹ đã chuyển từ lịch sử xung đột sang quan hệ đối tác toàn diện bao gồm các mối quan hệ chính trị, an ninh, kinh tế và nhân dân.

Ứng viên Đại sứ Mỹ tại Việt Nam do Tổng thống Joe Biden chỉ định nhấn mạnh rằng Washington ‘chủ động’ muốn thắt chặt quan hệ hợp tác với Việt Nam ở lĩnh vực an ninh quốc phòng, gìn giữ hòa bình ở Biển Đông.

Mỹ đánh giá Việt Nam là ‘đối tác chiến lược’ về an ninh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thừa nhận vị thế quan trọng của Việt Nam trong toàn bộ chính sách về một khu vực tự do cởi mở mà Washington đang theo đuổi.

“Hai nước đã mở rộng hợp tác an ninh một cách đáng kể, bao gồm các hỗ trợ tăng cường năng lực hàng hải mà Mỹ dành cho Việt Nam”, ông Knapper nêu rõ.

Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng, quá trình hợp tác an ninh Việt-Mỹ trong những năm gần đây đã có những bước phát triển nhanh chóng khi cả hai cũng chia sẻ tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở trong tương lai.

USCGC John Midgett ( WHEC -726)
© Ảnh : Public domain / U.S. Coast Guard

Sự hợp tác này được xây dựng dựa trên cam kết chung, với mục tiêu làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác quốc phòng, cùng nhau đi đến giải quyết các thách thức an ninh trong khu vực.

Được biết, hai nước đã tổ chức ít nhất 11 cuộc Đối thoại về Chính trị, An ninh và Quốc phòng để thảo luận về hợp tác an ninh song phương, từ đó thúc đẩy mối quan hệ song phương ngày càng phát triển giữa hai quốc gia.

Các chủ đề được đưa vào chương trình thảo luận bao gồm các vấn đề hậu chiến tranh, an ninh hàng hải, trợ giúp nhân đạo/cứu trợ thảm họa (HARD), hoạt động gìn giữ hòa bình và các sáng kiến quốc tế về Phụ nữ, Hòa bình và An ninh.

Tháng 3/2018, tàu sân bay USS Carl Vinson có chuyến thăm đến Việt Nam. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tàu sân bay Mỹ trong vòng hơn 40 năm.

Tàu sân bay Mỹ USS Carl Vinson rời cảng San Diego để tham gia RIMPAC-2018
Tàu sân bay Mỹ USS Carl Vinson rời cảng San Diego để tham gia RIMPAC-2018

Tháng 3/2020, tàu sân bay thứ hai của Mỹ USS Theodore Roosevelt cũng đã có chuyến thăm đến Đà Nẵng. Tại đây, các thủy thủ đã tham gia các hoạt động trao đổi văn hóa và dự án phục vụ cộng đồng như làm đồ thủ công, chơi thể thao, trao đổi ngôn ngữ, làm vườn và vẽ tranh, từ đó chứng minh tầm quan trọng của giao lưu nhân dân giữa Mỹ và Việt Nam.

Nhắc lại những sự kiện này, ông Marc Knapper cho rằng, Việt Nam và Mỹ hoàn toàn có tiềm năng hợp tác ở lĩnh vực mà hai nước có mối quan tâm chung – Biển Đông, năng lực hàng hải. Cả hai phía đều cùng quan tâm đến việc tuân thủ luật pháp quốc tế, chống lại các hành vi khiêu khích ở Biển Đông và cả khu vực sông Mekong

Hai phía cũng tổ chức hoạt động trao đổi chuyên môn, tập trung vào việc hợp tác ngăn ngừa dịch bệnh. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương khi đó đó là Đô đốc Aquilino cũng đã có tiệc chiêu đãi với các lãnh đạo cấp cao của chính phủ.

Trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, Bộ Ngoại giao Mỹ đã phê chuẩn xuất khẩu vĩnh viễn các thiết bị quốc phòng trị giá 32,3 triệu USD với Việt Nam thông qua chương trình Giao dịch Thương mại Trực tiếp (DCS). Cũng trong các năm này, 3 hạng mục trong chương trình DCS được xuất khẩu nhiều nhất là: Hệ thống điều khiển hỏa lực, laser, hình ảnh và thiết bị dẫn đường (USML hạng mục XII); thiết bị điện tử quân sự (hạng mục XI), súng và các thiết bị liên quan (hạng mục I). Các hoạt động trị giá hơn 162 triệu USD trong Giao dịch Quân sự Nước ngoài cũng đã được thực hiện với Việt Nam.

Giai đoạn từ các năm 2017 đến 2021, chính phủ Việt Nam đã tiếp nhận các khoản hỗ trợ an ninh song phương trị giá 60 triệu USD do Bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ thông qua chương trình Tài trợ Quân sự Nước ngoài (FMF), và hơn 20 triệu USD qua Sáng kiến An ninh Hàng hải Đông Nam Á (SAMSI) thuộc chương trình FMF khu vực của Bộ Ngoại giao Mỹ.

Bên cạnh đó, cũng từ chương trình FMF, Việt Nam tiếp nhận thêm 81,5 triệu USD trong tài khóa 2018 để hỗ trợ Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Cần nhắc lại rằng, chương trình FMF chủ yếu hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực về an ninh hàng hải/nhận thức vấn đề hàng hải. Các dự án trọng điểm đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam bao gồm việc chuyển giao, tân trang và bảo trì lâu dài 2 tàu tuần tra đã qua sử dụng của lực lượng Tuần duyên Mỹ theo chương trình chuyển giao Trang bị Quốc phòng Dư thừa (EDA), cũng như việc chuyển giao xuồng tuần tra Metal Shark.

Bên cạnh “ngoại giao tàu chiến” thì việc chuyển giao các tàu tuần duyên này đại diện cho những hoạt động chuyển giao quốc phòng quan trọng nhất giữa Mỹ và Việt Nam. Các xuồng tuần tra Metal Shark vận tốc lên tới 50 hải lý/giờ hỗ trợ Cảnh sát biển biển Việt Nam trong hoạt động tuần tra liên bờ biển và thực thi pháp luật về buôn lậu, buôn bán bất hợp pháp, cướp biển và các vụ cướp tàu có vũ trang, và đánh bắt cá bất hợp pháp.

Trong khi đó, sáng kiến SAMSI được thiết kế nhằm nâng cao năng lực nhận thức vấn đề hàng hải, giúp tăng cường sự hiện diện của các quốc gia đối tác của Mỹ trong lãnh hải của mình, đồng thời giúp các quốc gia bảo vệ các quyền và sự tự do như quy định trong luật biển quốc tế.

Thực tế, Việt Nam đã sử dụng nguồn tài trợ của SAMSI để mua các máy bay trinh sát không người lái Scan Eagle.

Một trong những lĩnh vực hợp tác đáng quan tâm khác là giải quyết hậu quả chiến tranh, vấn đề nhân đạo. Theo đó, Chính phủ Mỹ đang tiếp tục hợp tác với Chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề chiến tranh để lại tại Việt Nam. Các hoạt động bao gồm xử lý vật liệu chưa nổ (UXO), xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật và thực hiện hoạt động nhân đạo về tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh (POW/MIA).

Năm 2020 đánh dấu 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam kể từ sau chiến tranh tại Việt Nam. Từ năm 1993, Chính phủ Mỹ đã đóng góp hơn 166 triệu USD vào các nỗ lực xử lý bom mìn và vật liệu chưa nổ.

Trong khi đó, Việt Nam đã góp phần thực hiện các sứ mệnh gìn giữ hòa bình tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan. Việt Nam cũng là một quốc gia đối tác tích cực trong Sáng kiến Hoạt động Hòa bình Toàn cầu (GPOI) của Mỹ. Năm 2018, Việt Nam triển khai bệnh viện dã chiến cấp 2 tham gia hoạt động cùng Phái bộ Gìn giữ hoà bình Liên Hiệp Quốc tại Nam Sudan (UNMISS) với nguồn tài trợ và hỗ trợ từ GPOI. Việt Nam đang trong quá trình cam kết triển khai công binh tới một Phái bộ Liên Hiệp Quốc trong tương lai.

Như Sputnik cũng đã thông tin, năm 2018, Việt Nam lần đầu tham gia cuộc diễn tập Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC), sau khi cử quan sát viên tới các cuộc diễn tập vào năm 2012 và 2016. RIMPAC là cuộc diễn tập hàng hải quốc tế lớn nhất thế giới do Mỹ và các đồng minh, đối tác trong và quanh khu vực quần đảo Hawaii và vùng Nam California tổ chức 2 năm một lần. Điều này đương nhiên khiến cho chính quyền Bắc Kinh “không vui” khi quan hệ hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ ngày càng gắn kết.

Đáng chú ý, vừa qua, Mỹ tiếp tục chuyển giao thêm một tàu tuần tra lớp Hamilton cho Việt Nam. Cần nhấn mạnh, việc chuyển giao tàu CSB 8021 và các hoạt động hỗ trợ liên quan có tổng giá trị hơn 27 triệu USD, và là viện trợ an ninh của Mỹ dành cho Việt Nam. Trước đó, việc chuyển giao tàu CSB 8020 vào năm 2017 có tổng giá trị khoảng 24 triệu USD.

Nhìn lại, có thể thấy, sau 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Mỹ đã chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có an ninh - quốc phòng.

Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, thời gian tới, Việt Nam và Mỹ sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương, hợp tác an ninh hàng hải và nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển theo tinh thần các văn bản hai bên đã ký kết như là Biên bản ghi nhớ thúc đẩy hợp tác quốc phòng năm 2011, Tuyên bố và Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng năm 2015 và Kế hoạch hành động hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018 - 2020, góp phần duy trì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như quốc tế.