Widgets Magazine
22:27 21 Tháng Chín 2019

Việt Nam quyết không để Trung Quốc đặt chân vào Bãi Tư Chính

© AP Photo / Ritchie B. Tongo
Việt Nam
URL rút ngắn
70
Theo dõi Sputnik trên

Căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng khi Trung Quốc ngang nhiên đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa ở phía Nam Biển Đông của Việt Nam. Dư luận nhiều quốc gia đánh giá đây là sự vu phạm rất nghiêm trọng. Việt Nam chắc chắn sẽ không để Trung Quốc tiến vào Bãi Tư Chính.

Trung Quốc đã sai nhưng vẫn không thừa nhận?

Tuần trước, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói rằng chính quyền Trung Quốc yêu cầu Việt Nam ngừng tiến hành công tác thăm dò tiếp tục phát triển các mỏ dầu tại khu vực tranh chấp quần đảo Trường Sa ở Biển Đông.

 “Đây rõ ràng là một sự vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), tôi không thấy có điều gì có thể biện minh cho các hoạt động hiện nay của Trung Quốc. Việt Nam có mọi quyền để bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của mình. Theo UNCLOS và phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế 3 năm trước đây thì khu vực biển đó thuộc về Việt Nam”, VOV dẫn lời ông Bill Hayton, chuyên gia hàng đầu về Biển Đông của Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh nói.

Giáo sư Stein Tonnesson thuộc Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo, Na Uy cùng chia sẻ quan điểm trên: “Tôi cho rằng đây là một hành vi đáng chê trách từ phía Trung Quốc. Theo UNCLOS, Trung Quốc không có quyền được khai thác tài nguyên ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước khác”.

Nguyên Phó Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Katsuhito Asano thì khẳng định:

“Hành vi của Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS 1982, gây ảnh hưởng tới an ninh của Biển Đông và khu vực. Trung Quốc không những xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà gần đây đang gia tăng những hành động quân sự hóa tại Biển Đông. Điều này kích động chiến tranh, coi thường luật pháp và dư luận quốc tế”.

Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, từ trao công hàm ngoại giao phản đối, yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt ngay hành vi xâm phạm chủ quyền, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tài phán của Việt Nam nhằm duy trì quan hệ tốt đẹp ổn định giữa hai nước.

Nhưng dường như Trung Quốc vẫn làm ngơ. Trung Quốc đã bất chấp dư luận quốc tế, bồi đắp trái phép các bãi đá, rạn sạn hô ở Biển Đông thành các đảo nhân tạo và không ngừng quân sự hóa các thực thể này, hòng củng cố yêu sách chủ quyền phi lý của họ trên Biển Đông, phớt lờ phán quyết của Tòa trọng tài Quốc tế năm 2016 vốn phủ nhận các yêu sách của Trung Quốc tại vùng biển này.

Bãi Tư Chính và chiến lược của Việt Nam khi xây nhà giàn DK1

Với những “sóng gió” nổi lên gần đây trên Biển Đông, Đại tá Nguyễn Quý, vị Tổng chỉ huy các lực lượng công binh xây dựng nhà giàn đầu tiên ở khu vực DK1 đã lên tiếng chia sẻ về vai trò và sứ mệnh xây dựng nhà giàn DK1 từ năm 1988 của Đảng và Chính phủ.

Đây là những tài liệu lần đầu được công bố. Đại tá Nguyễn Quý đã kể chính câu chuyện của mình trên mạng xã hội. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một phần rất nhỏ so với cuốn hồi ký và hàng nghìn bức ảnh ông đang lưu giữ về những ngày tháng gian khổ, khi Đảng và Nhà nước quyết định đặt những nhà giàn đầu tiên ở thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.

“Nếu trên đất liền, chúng ta có địa hình đồi núi thì dưới đáy biển, cũng có những chỗ nhô lên như vậy”. Đại tá Nguyễn Quý từng là Cục trưởng Cục kỹ thuật, Bộ Tư lệnh Công Binh, Trưởng Ban xây dựng DK1 đầu tiên giai đoạn 1990-1996, chia sẻ trên VOV, ông cho biết.

Đại tá Nguyễn Quý bắt đầu câu chuyện của mình về vùng biển rộng lớn DK1 với diện tích khoảng 80.000km2, có vị trí đặc biệt quan trọng về An ninh-Quốc phòng, khu vực rất giàu có về tài nguyên khoáng sản và tài nguyên biển, án ngữ trên đường hàng hải Quốc tế qua Biển Đông.

Có thể hiểu được rằng Trung Quốc coi Biển Đông có ý nghĩa quan trọng đối với lợi ích của họ. 70% khối lượng dầu thô và 90% giao dịch hàng hóa của Trung Quốc đi qua vùng biển này. Biển Đông cũng là một trong những tuyến đường giao thương hàng hải quan trọng bậc nhất trên thế giới. Vì thế, những yếu tố cạnh tranh chiến lược trong khu vực là điều khó có thể tránh khỏi và đương nhiên, với tham vọng của mình, Trung Quốc muốn giành vị thế thống trị ở đây.

Ông kể: “Sau sự kiện Gạc Ma (14/3/1988), Sau sự kiện Gạc Ma (14/3/1988), chúng ta nhận thức rằng, Trung Quốc sẽ bành trướng sang các đảo khác ở Trường Sa và có thể nhòm ngó sang các khu vực khác, nhất là khu vực DK1- thềm lục địa phía Nam, nơi Việt Nam đã tiến hành khai thác dầu khí, cách đất liền 250-350 hải lý.

Với tầm nhìn chiến lược, Đô đốc Giáp Văn Cương đã chỉ đạo Lữ đoàn 171 khảo sát trong thềm lục địa Nam Biển Đông nước ta có 6 bãi đá ngầm san hô có đỉnh nhô cao dưới mặt nước biển từ 9-50m… Phía Bắc là Phúc Tần (160km2), Huyền Trân (40km2), phía Đông Nam là Ba Kè (1.000km2), phía Tây Nam là Tư Chính (700km2). Nằm giữa Phúc Tần và Tư Chính là Phúc Nguyên (300km2) và Quế Đường (90km2)”.

Theo đề nghị của Tư lệnh Hải quân và Bộ Quốc phòng, ngày 17/10/1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký Quyết định số 19/NQ-TW chủ trương tiến hành xây dựng các công trình trên tất cả các bãi đá ngầm với tên gọi “Trạm dịch vụ Kinh tế- Khoa học kỹ thuật”, gọi tắt là công trình DK1. Đây là một quyết định vô cùng quan trọng vào thời điểm cách đây hơn 30 năm.

“Thực chất, nếu xác lập chủ quyền ở DK1, các nước muốn liên doanh dầu khí với Việt Nam cũng yên tâm hơn. Do đó, chúng tôi đề nghị ghi rõ trên công trình nhà giàn biển hiệu: “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau đó mới là Trạm dịch vụ Kinh tế- Khoa học kỹ thuật và tên của Việt Nam là “Tư Chính”, đánh dấu là “Tư Chính 1”, “Tư Chính 2”…để chứng tỏ cho thế giới biết rằng, đây là vùng biển của Việt Nam”, Đại tá Nguyễn Quý nhớ lại.

Bộ Chính trị Việt Nam với tầm nhìn chiến lược

Bãi ngầm Tư chính là một cụm rạn san hô ở phía nam Biển Đông, cách đất liền Việt Nam cách bờ biển Vũng Tàu 160 hải lý và cách bờ biển Đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 600 hải lý. Bãi nằm trong DK1, có diện tích 700 km2, chiều dài 52 km (có tài liệu nói 61km), chiều rộng 11km (có chỗ phình ra hơn 20km) lại ở vị trí chiến lược rất quan trọng, gần sát nhất các mỏ dầu chúng ta đang khai thác như Thanh Long, Bạch Hổ, Đại Hùng...

“Thực tế, năm 1994, tôi đưa đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Quốc phòng do Thượng tướng Nguyễn Chơn dẫn đầu ra thăm Tư Chính. Lúc đó, giàn khoan Tam Đảo của Vietsovpetro đang thực hiện khoan dầu ở đây với độ sâu 2926m nhưng chưa thấy dầu. Chỉ 2 ngày sau, khi tôi trở về Hà Nội, ông Ngô Thường San – khi đó là Tổng Giám đốc Vietsovpetro có điện cho tôi với giọng mừng rỡ: “Anh Quý ơi, có dầu rồi”. Như vậy, ở Tư Chính rõ ràng là có dầu, các nơi khác chắc chắn cũng vậy”. 

Nguyên Cục trưởng Cục kỹ thuật, Bộ Tư lệnh Công Binh kể tiếp: ”Năm 1989, DK1 đầu tiên được xây dựng ở Tư Chính. Năm 1990, chúng ta làm tiếp một nhà giàn nữa cũng ở Tư Chính theo cách “chặn đầu, khóa đuôi”. Đến năm 1994, khi tôi đi lắp dựng công trình ở bãi cạn Cà Mau (DK1-10), về tới Vũng Tàu, chưa lên tới bờ thì nhận được điện của Tổng Tham mưu trưởng Đào Đình Luyện nói rằng “đồng chí không về Hà Nội vội, ở lại đó làm việc với Vietsovpetro, ký hợp đồng ngay để ta làm tiếp 2 nhà giàn nữa ở Tư Chính.

Đại tá Nguyễn Quý cho biết: Bộ Chính Trị đã quyết làm thêm 2 nhà giàn nữa ở khu vực bãi Tư Chính (Tư Chính 3 và Tư Chính 4). Nhà giàn DK1/14 (tức nhà giàn Tư Chính E hay Tư Chính 5): hoàn thành 20 tháng 4 năm 1995.

Binh sĩ đồn trú thuộc biên chế Tiểu đoàn DK1, lúc đầu thuộc Lữ đoàn 171 Hải quân Nhân dân Việt Nam, về sau trực thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân.

Trường Sa không liên quan đến khu vực nhà giàn DK1?

Trưởng Ban xây dựng công trình DK1 đầu tiên khẳng định, khi theo dõi báo chí trong nước và quốc tế, ông nhận thấy có sự hiểu lầm khi gắn Trường Sa với khu giàn DK1:

“Hai khu vực này hoàn toàn khác  nhau, không thể nhầm lẫn được! Nếu Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa thì khu vực DK1 lại hoàn toàn thuộc một địa phương khác là tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu vì nếu nói dính dáng Trường Sa thì Trung Quốc còn có lý do cho rằng, đó là vùng tranh chấp. Còn đây là vùng đặc quyền kinh tế, thuộc chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc hoàn toàn không có cớ gì để “đánh lận con đen” về chủ quyền của mình. Nếu hiểu rõ điều này thì không bao giờ có chuyện biến vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp để có thể chia sẻ lợi ích. Khánh Hòa cách rất xa Vũng Tàu, giữa Trường Sa và DK1 có một hõm biển nên Công ước LHQ về Luật Biển 1982 đã xác định vùng DK1 hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”.

Nhà giàn DK1 là chủ trương sáng suốt của Việt Nam?

Theo Đại tá Nguyễn Quý, khi triển khai xây dựng 3 nhà giàn đầu tiên ở khu vực DK1, Liên doanh dầu khí Vietsovpetro được giao làm 2 chân đế theo kiểu móng cọc (chân đế giàn khoan), còn Viện thiết kế cơ khí -Bộ Giao thông vận tải làm 2 chân đế theo kiểu pông tông (đánh chìm sà lan và bơm bê tông vào. Nguyên tắc này trong kỹ thuật gọi là móng trọng lực kiểu như con lật đật). Nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng mà cụ thể là Bộ Tư lệnh Công Binh và ông được giao nhiệm vụ tổng chỉ huy các lực lượng công binh thiết kế và thi công phần thượng tầng (phần nhà nổi trên mặt nước).

Đáy biển không bằng phẳng, phía dưới có nhiều luồng lạch nên khi đặt pông tông xuống, chân đế cập kênh, rung lắc. Bộ đội và chuyên gia sẽ không sinh hoạt được trong điều kiện như vậy. Nên sau này, Việt Nam đã rút kinh nghiệm, hoàn toàn không sử dụng pông tông nữa mà đặt móng cọc như đối với giàn khoan dầu khí.

Đơn vị thi công từ đó đến nay là Vietsvpetro và phần thượng tầng là do các đơn vị công binh đảm nhiệm. Với những đóng góp cho việc thiết kế, thi công các nhà giàn ở DK1, Nhà nước đã tặng thưởng cho Liên doanh Vietsovpetro và Ban DK1 Huân chương chiến công hạng Nhất vào năm 1995. Năm 2012, công trình Dk1 được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ. Năm 2015, Ban quản lý dự án công trình DK1 được đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân.

“Tôi đã trực tiếp cùng anh em thi công từ nhà giàn đầu tiên cho đến nhà giàn thứ 16 thì nghỉ hưu. Tôi làm trưởng Ban DK1 đầu tiên (giai đoạn 1990-1996), cho đến nay đã có 7 đời trưởng Ban DK1. Nhìn lại lịch sử gần 30 năm qua, tôi luôn nghĩ rằng, Đảng và Chính phủ đã hết sức sáng suốt trong chủ trương xây dựng các nhà giàn ở khu vực DK1. Những công trình ở đó chính là những cột mốc chủ quyền khẳng định, đây là vùng biển hoàn toàn thuộc về Việt Nam”- Đại tá Nguyễn Quý chia sẻ.

Quyết không để Trung Quốc đặt chân vào Bãi Tư Chính

Khi được hỏi, nếu chúng ta không cương quyết trong việc khẳng định chủ quyền và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế thì điều gì sẽ xảy ra? Đại tá Nguyễn Quý cho rằng:

“Trung Quốc đã từng có ý định đưa giàn khoan vào khu vực bãi Tư Chính. Cho nên, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác để không cho họ đặt chân vào đó. Đặt chân vào Tư Chính giống như con dao kề vào cổ vùng khai thác dầu khí của Việt Nam và nó khống chế toàn bộ vùng DK1 rộng 80.000km2”.

Khi nói về sự kiện tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc cùng các tàu hộ tống hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đại tá suy tư:

“Khi nghe tin tàu HD-8 của Trung Quốc đi vào bãi Tư Chính, cá nhân tôi không lấy gì làm lạ và tôi cũng không lo lắng quá mức vì tôi có niềm tin. Các thế hệ trước đã quyết tâm giữ gìn, bảo vệ DK1 bằng được thì chắc chắn, thế hệ hôm nay cũng sẽ có cách để giữ gìn thành quả đó.

Là người lính, đã từng kinh qua trận mạc, tôi luôn mong muốn có một nền hòa bình bền vững, không bao giờ mong muốn đụng độ hay chiến tranh. Đất nước chúng ta đã quá nhiều đau khổ, quá nhiều tổn thất vì chiến tranh. Gia đình tôi cũng có người em liệt sĩ nên tôi rất thấu cảnh mất mát. Tôi cũng thấy cách giải quyết của chúng ta vừa mềm dẻo, vừa cương quyết như các cụ ta nói “lạt mềm buộc chặt”. Trong thời điểm này, các nước đã thấy rõ chính nghĩa thuộc về Việt Nam. Trung Quốc hành động như vậy là vi phạm chủ quyền, vi phạm Công ước Luật Biển năm 1982 mà chính Trung Quốc đặt bút ký vào đó. Tôi tin rằng, các nước sẽ ủng hộ Việt Nam và không ai có thể trà đạp lên luật pháp quốc tế”- Đại tá Nguyễn Quý bộc bạch.

Trung Quốc đã từng kêu gọi “cả châu Á” phải đoàn kết lại nhưng Bắc Kinh lại luôn đi ngược những gì mình đã nói. Việc Trung Quốc đơn phương tiến hành nhiều hoạt động nhằm quân sự hóa Biển Đông đã thể hiện rất rõ tham vọng bành trướng của quốc gia này. Nhưng chắc chắn, Việt Nam và nhiều quốc gia Đông Nam Á khác như Philippines, Malaysia và Brunei với chung tuyên bố về chủ quyền tại vùng biển này sẽ không đứng yên để chính quyền Bắc Kinh “muốn làm gì thì làm”.

Tranh chấp lãnh thổ Biển Đông

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gồm các tranh chấp về đảo và vùng biển. Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei; các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa.

Từ khóa:
Biển Đông, Việt Nam