06:19 05 Tháng Tám 2020
Việt Nam
URL rút ngắn
Theo
70
Theo dõi Sputnik trên

Ngày 30 tháng 4 có hai lần đặc biệt được ghi vào lịch sử hiện đại. Vào ngày này trong năm 1945, lá cờ Chiến thắng được những người lính Xô-viết phất cao ở thủ đô nước Đức phát-xít bại trận. Rồi 30 năm sau, cũng vào ngày đó, các chiến sĩ Việt Nam đã cắm cờ đỏ giữa đô thành Sài Gòn.

Sự trùng hợp như vậy dù là ngẫu nhiên nhưng mang tính biểu tượng sâu sắc.

Có chi tiết rất ý nghĩa khi ông Đại sứ Liên Xô tại Hà Nội đã là vị đại diện ngoại giao đầu tiên được vinh dự chính thức nhận thông báo về thắng lợi ở miền Nam. Khi đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đặc biệt nhấn mạnh:

«Tôi mời đại sứ tới đây để báo tin vui về chiến thắng hoàn toàn của nhân dân Việt Nam. Trong niềm vui mừng phấn khởi này cả nước chúng tôi đều nhớ đến sự giúp đỡ to lớn mà Liên Xô đã dành cho Việt Nam. Trong chiến thắng hôm nay có phần đóng góp của Liên Xô. Hình ảnh có tính biểu tượng là chính xe tăng Liên Xô do những người lính tăng Việt Nam điều khiển, lần đầu tiên đã tiến vào Dinh Độc Lập, và bộ đội Giải phóng vào tiếp quản Sài Gòn trên những chiếc xe tải Liên Xô». 
Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng
© Sputnik / G. Scherbakov
Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng

Ngày hội chung của người Việt và người Nga

Những ngày này, nhiều người Nga chia sẻ tâm trạng lễ hội của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là những người từng gắn bó với Việt Nam suốt trong nhiều năm. Chẳng hạn, chuyên gia khoa học và nhà hoạt động xã hội Matxcơva, TS Evgeny Kobelev, năm 1956 bắt đầu nghiên cứu tiếng Việt tại ĐHTH Quốc gia Matxcơva và hai năm sau có mặt trong nhóm sinh viên Liên Xô đầu tiên sang học tại Hà Nội. Chân thành chúc mừng các bạn Việt Nam, ông Kobelev nói: 

«Cuộc đấu tranh giải phóng Việt Nam là bản anh hùng ca đích thực. Cố gắng ráo riết của các thế lực thù địch hòng duy trì sự chia cắt đất nước đã vấp phải ý chí kiên cường không khoan nhượng của những người yêu nước Việt Nam chân chính vươn tới thống nhất đất nước, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh «Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một». Yếu tố quan trọng nhất đảm bảo chiến thắng của các lực lượng yêu nước là sự lãnh đạo thông thái của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Đảng Cộng sản cũng đã tài tình linh hoạt kết hợp cuộc đấu tranh của toàn dân với mặt trận đoàn kết thế giới, trở thành yếu tố phi vật chất đóng vai trò quan trọng trong thành tựu giành chiến thắng. Còn có thêm yếu tố vật chất là sự hỗ trợ của các nước trong phe XHCN mà trên hết là của Liên Xô dành cho những người yêu nước Việt Nam». 
Người dân làng Trảng Bàng bị bom Mỹ phá huỷ ngày 27 tháng 01 năm 1973, đúng vào ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam
© AFP 2020 / Roland-Pierre Paringaux
Người dân làng Trảng Bàng bị bom Mỹ phá huỷ ngày 27 tháng 01 năm 1973

Liên Xô không thờ ơ trước tâm nguyện của người Việt Nam

Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam DCCH và lực lượng yêu nước ở miền Nam hơn ¾ tổng số viện trợ mà Việt Nam nhận được từ nước ngoài. Trang thiết bị và vũ khí Liên Xô thời đó là hiện đại bậc nhất. Ví dụ, máy bay phản lực MiG do các phi công Việt Nam điều khiển đã bắn hạ cả «thần sấm» «F-105» và «pháo đài bay» «B-52» của Không lực Hoa Kỳ. Các tổ hợp tên lửa phòng không Xô-viết đã chứng tỏ khả năng bắn trúng mục tiêu đang bay trên không ngay cả ở độ cao 25 ​​km. 

Máy bay MiG-21 Việt Nam
Máy bay MiG-21 Việt Nam
«Đó là những quả đạn pháo tử thần nhất từng được phóng từ mặt đất lên hạ máy bay», - như chuyên gia Mỹ từ «Military Technical Magazine» của Hoa Kỳ đã phải thừa nhận trong những năm đó.

Đội quân tên lửa-phòng không của Việt Nam DCCH được các cố vấn quân sự  Liên Xô giúp tạo lập và huấn luyện đã tiêu diệt khoảng 1.300 máy bay Mỹ, trong đó có 54 máy bay ném bom chiến lược «B-52». Các giàn phóng tên lửa cơ động «Katyusha» với kích thước giảm bớt từng làm cho bọn phát-xít Đức hoảng sợ được chuyển qua Hà Nội để cung cấp cho các đơn vị vũ trang của Mặt trận GPDT miền Nam Việt Nam. Xe tăng cũng được đưa đến Việt Nam, đó là phiên bản sửa đổi của xe tăng T-34 tiên tiến nhất trong Thế chiến II. Và những khẩu tiểu liên tấn công Kalashnikov lừng danh khắp thế giới đến tay các chiến sĩ Việt Nam, đóng góp vào kho từ vựng tiếng Việt một thuật ngữ mới – súng AK. 

«Chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc với chiến thắng của đội quân được trang bị chủ yếu bằng vũ khí Nga», - The Daily Telegraph viết ngay sau khi Sài Gòn được giải phóng. 

Giữa biển nước và lửa đạn

Ban đầu, vũ khí và khí tài quân sự được Matxcơva chuyển giao cho Việt Nam chủ yếu thông qua lãnh thổ Trung Quốc. Sau đó, khi quan hệ Xô-Trung xấu đi, Matxcơva quyết định dùng đường biển, từ các hải cảng vùng Biển Đen và Viễn Đông. Nếu xếp toàn bộ hàng hóa vận chuyển bằng đường biển từ Liên Xô sang Việt Nam chỉ riêng trong năm 1970 vào những toa xe lửa chở hàng nặng, thì đoàn tàu như vậy sẽ có chiều dài tới…800 km!. Trong những năm 60-70, trung bình mỗi tháng có 40 con tàu Liên Xô dỡ hàng xuống tại các cảng Hải Phòng, Hòn Gai và Cẩm Phả. Và hành trình ở giai đoạn cuối quả thực như hoạt động ngoài mặt trận. Bởi các con tàu phải đi qua  khu vực mà Hoa Kỳ tuyên bố là vùng hoạt động quân sự nhằm chống lại lực lượng yêu nước của Việt Nam. Tàu hàng Liên Xô nhiều lần trở thành mục tiêu pháo kích và ném bom của lực lượng Mỹ. Và nếu trong toàn bộ thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ tổn thất về chuyên gia quân sự Xô-viết trên địa bàn Việt Nam là 13 người trong đó 4 người hy sinh tại trận địa, thì thiệt hại trong số các thủy thủ Liên Xô đảm trách chuyển hàng viện trợ cho Việt Nam vào đầu năm 1969 là 6 người và tất cả đều ngã xuống trong tư thế chiến đấu. 

Tại các hải cảng của Việt Nam DCCH, để tiếp nhận khối hàng do các chuyên gia Liên Xô đưa tới, đã xây dựng cấp tốc hàng chục km bến bãi mới. Những lô sản phẩm xăng dầu cần thiết cho hoạt động của các chủ thể quân sự và kỹ thuật được tàu chở dầu Xô-viết mang đến Hạ Long. Từ đó, các chuyên gia Liên Xô mở rộng tuyến đường ống cung cấp sản phẩm dầu, xăng và dầu hỏa. Ở khu vực Hà Nội, đường ống bố trí dọc theo đáy sông Hồng, rồi tiếp đó một phần nhiên liệu theo đường ống kim loại vắt lên núi, tới «Đường mòn Hồ Chí Minh» và tiếp nữa, chảy về phương nam. Mỗi năm, theo đường ống bơm tới 700.000 mét khối sản phẩm từ dầu mỏ. Dành cho công việc với các thiết bị quân sự Xô-viết, trong các trường quân sự và học viện của Liên Xô bắt đầu chu trình đào tạo các quân nhân Việt Nam - tổng số vượt hơn 10.000 người, sau khi tốt nghiệp về nước phục vụ cả ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Mặt trận GPDTMN Việt Nam rồi Chính phủ CMLTCHMN Việt Nam được Liên Xô chính thức công nhận 

Tháng 12 năm 1964, ban lãnh đạo Liên Xô đã đề xuất để Mặt trận GPDT miền Nam Việt Nam mở văn phòng đại diện tại Matxcơva, cơ sở khai trương vào tháng 4 năm 1965. Người phụ trách Cơ quan đại diện thường trực của Mặt trận tại Matxcơva là ông Đặng Quang Minh đã hội kiến với Tổng Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Liên Xô. Tại cuộc gặp này, TBT Brezhnev tuyên bố rằng Liên Xô quyết tâm tiếp tục dành mọi sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc đấu tranh của quân dân Việt Nam chống bọn xâm lược Mỹ và tay sai

© Sputnik / Isaev
Người phụ trách Cơ quan đại diện thường trực của Mặt trận tại Matxcơva, ông Đặng Quang Minh, tại Liên Xô

Năm 1969, Liên Xô chính thức công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do ông Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu. Trong thông điệp của Thủ tướng Liên Xô Kosygin lưu ý rằng Liên Xô vẫn mạnh mẽ ủng hộ cuộc đấu tranh của các lực lượng yêu nước miền Nam Việt Nam chống lại chính quyền Sài Gòn và các «nhà bảo trợ» đế quốc của chính thể bù nhìn đó. 

© Sputnik / Viktor Chernov
Cuộc gặp giữa Thủ tướng Liên Xô A. Kosygin và Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ tại Kremlin, năm 1969

Năm 1973, nội dung này được thảo luận tại cuộc gặp của các nhà lãnh đạo Liên Xô với ông Nguyễn Hữu Thọ và bà Nguyễn Thị Bình, đến Matxcơva nhận Huân chương «Hữu nghị Các dân tộc» do Nhà nước Liên Xô trao tặng. Tháng 8 cùng năm, một thỏa thuận đã được ký kết tại Matxcơva quy nhận viện trợ khẩn cấp không hoàn lại của Liên Xô dành cho Chính phủ CMLTCH miền Nam Việt Nam, dự trù cung cấp lượng lớn thực phẩm, thuốc men và hàng tiêu dùng cho cư dân những địa phương vừa được giải phóng. Vào tháng 12, thỏa thuận tương tự được ký kết cho năm 1974. Đến những ngày cuối năm, khi nhận tin xảy ra trận lụt lớn ở miền Nam Việt Nam, thông qua Chính phủ CMLTCH miền Nam Việt Nam, Chính phủ Liên Xô lập tức gửi quần áo, thực phẩm và thuốc men đến giúp đỡ nhân dân ở các khu vực bị thiệt hại do thiên tai. 

«Là minh chứng sinh động và rực rỡ về quan hệ hữu nghị anh em gắn bó hai nước», - ông Lê Duẩn mô tả khái quát như vậy về quyết định của ban lãnh đạo Liên Xô tháng 7 năm 1973 – tất cả những gì mà đất nước Xô-viết cung cấp những năm vừa qua cho Việt Nam DCCH và lực lượng yêu nước ở miền Nam, cả về quân sự và kinh tế, đều là viện trợ không hoàn lại. Quyết định này cực kỳ quan trọng đối với Nhà nước Việt Nam, khi đang phải đối mặt với những vấn đề tài chính và kinh tế nghiêm trọng hồi cuối những năm 70 và đầu thập niên 80.

Năm 1974, triển vọng phát triển quan hệ giữa Liên Xô và Cộng hòa miền Nam Việt Nam là nội dung cuộc hội đàm ở Matxcơva với các vị thượng khách Việt Nam là ông Nguyễn Hữu Thọ và bà Nguyễn Thị Định. Tại Điện Kremlin đã diễn ra nghi lễ long trọng trao Giải thưởng Lenin quốc tế «Vì công lao củng cố nền hòa bình giữa các dân tộc» cho bà Nguyễn Thị Định. Trong cuộc phỏng vấn của Đài phát thanh Matxcơva (tiền thân của Sputnik hiện nay), bà Nguyễn Thị Định xúc động nói rằng một yếu tố truyền cảm hứng mạnh mẽ cổ vũ những người yêu nước miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chính là những chương trình phát thanh bằng tiếng Việt từ thủ đô Matxcơva của Liên bang Xô-viết. 

© Sputnik / Lev Ivanov
Tại cuộc họp của Hội Hữu nghị Việt-Xô, bà Nguyễn Thị Định phát biểu sau nghi thức trọng thể trao Giải thưởng Quốc tế Lenin “Vì sự củng cố hòa bình giữa các dân tộc”
Giai đoạn mới trên hành trình phát triển liên hệ giữa hai nước 

Ngày lễ tháng 5 năm 1975 ở đất nước Xô-viết đồng thời là lễ hội kỷ niệm chiến thắng của những người yêu nước Việt Nam. Những thông báo chi tiết về sự kiện bất hủ này được công bố trên trang nhất của mọi tờ báo Liên Xô, toả đi trên sóng phát thanh và truyền hình. Nhân tiện xin nhắc, trong số các đài nước ngoài, Đài Matxcơva là cơ quan phát thanh quốc tế đầu tiên loan báo tin vui này trong chương trình phát thanh bằng tiếng Việt trên làn sóng điện thế giới. 

Còn các thủy thủ Liên Xô là những người đầu tiên đưa tàu vượt trùng dương cập vào bờ biển miền Nam vừa được tự do. Quân Giải phóng còn đang tiến về Sài Gòn, hai tàu Liên Xô đã vào cảng Đà Nẵng, và như lời nhận xét của vị Giám đốc cảng đương thời, tàu Xô-viết đã là «những con tàu nước ngoài đầu tiên chở hàng hóa dân dụng tới đây trong toàn bộ lịch sử cả thế kỷ của cảng này». Cũng vào những ngày đầu tháng 5, tàu thuỷ Liên Xô đậu ở bến cảng Sài Gòn, cung cấp lương thực, thuốc men và nhiều hàng nhu yếu phẩm khác mà các cư dân thành phố và người di tản đang cần đến.  

Trung tuần tháng 5, một hiệp định được ký kết tại Matxcơva xác nhận việc Liên Xô viện trợ khẩn cấp giúp Việt Nam mau chóng bình thường hóa cuộc sống của cư dân, khôi phục và phát triển sản xuất. Những lô hàng lớn gồm sản phẩm dầu mỏ, phân bón, thực phẩm, phương tiện giao thông và hàng tiêu dùng được gửi đến Việt Nam. Vào cuối tháng 5, nhân kỷ niệm 25 năm thành lập Hội Hữu nghị Việt - Nga, ban lãnh đạo Liên Xô quyết định trao tặng Hội tấm huân chương «Hữu nghị giữa các dân tộc». 

© Sputnik / Yuri Abramochkin
Lễ ký kết những thỏa thuận Liên Xô viện trợ không hoàn lại cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, năm 1967. Trong ảnh, trưởng phái đoàn Chính phủ Liên Xô, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô cũ V.N. Novikov và Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thanh Nghị có chiếc ôm nồng hậu ngay sau lễ ký

Ngày 29 tháng 8 năm 1975, tại Hà Nội cử hành lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo quản vĩnh viễn thi hài người con vĩ đại của dân tộc đã suốt đời cống hiến cho sự nghiệp thống nhất, tự do và độc lập của Tổ quốc Việt Nam. Các chuyên gia Xô-viết bắt đầu làm việc tại khu Lăng vào tháng 9 năm 1973. Như ghi nhận của ban lãnh đạo Việt Nam, công trình Lăng mãi mãi trở thành biểu tượng về tình anh em hữu nghị thân thiết của các dân tộc Việt Nam và Liên Xô.