14:05 08 Tháng Bảy 2020
Việt Nam
URL rút ngắn
30
Theo dõi Sputnik trên

VKSND Tối cao đề nghị thực nghiệm lại hiện trường vụ án Hồ Duy Hải để xác định thời gian, thời điểm Hồ Duy Hải có mặt tại bưu điện buổi tối diễn ra án mạng xảy ra ở Bưu điện Cầu Voi (ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, Long An). Điều tra viên thừa nhận sơ suất trong vụ Hồ Duy Hải.

Đặc biệt, theo kiểm sát viên cấp phúc thẩm, Hải muốn quan hệ tình dục với nạn nhân Hồng nhưng ở hiện trường, áo của nạn nhân Hồng bị lật lên lộ ra hai vú, có chất nhầy trong âm hộ, nhưng không có tinh trùng. Trong khi đó, thi thể chị Vân không có dấu vết xộc xệch quần áo, không có chấn thương và chị Vân còn màng trinh.

Hồ Duy Hải cũng chưa từng thừa nhận tội hiếp dâm. Phiên giám đốc thẩm cũng đề nghị làm rõ vấn đề này. Đồng thời, đại diện VKSND Tối cao đánh giá, Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã có sai lầm nghiêm trọng trong việc đánh giá động cơ, mục đích gây án trong vụ Hồ Duy Hải.

Kỳ án Hồ Duy Hải: Tranh luận lời khai nhân chứng Đinh Vũ Thường

Sáng nay 7 tháng 5, phiên xét xử giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về tội Giết người và Cướp tài sản liên quan đến cái chết của hai nữ nhân viên Bưu điện Cầu Voi (ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, Long An) tối 13 tháng 1 năm 2008.

Đồng thời, những vấn đề liên quan đến lời khai nhân chứng, xác định thời gian Hồ Duy Hải có mặt tại hiện trường vụ án được đưa ra để các bên đánh giá.

Tại phiên xử này, đại diện Hội đồng thẩm phán đọc lại nguyên văn bút lục 20 về lời khai của nhân chứng là Đinh Vũ Thường.

Đáng chú ý, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đề nghị cần thực nghiệm lại hiện trường để xác định thời gian, thời điểm Hồ Duy Hải có mặt tại bưu điện buổi tối diễn ra án mạng. Đây cũng là nội dung liên quan đến kháng nghị của Viện Kiểm sát và chứng cứ đưa ra của Luật sư Trần Hồng Phong (người đề nghị cung cấp chứng cứ).

Cụ thể, tối 13/1/2008, sau khi đưa bạn gái đi làm, anh Thường chạy xe đến Bưu điện Cầu Voi. Khi vào trong, anh Thường thấy một người nữ ngồi ngoài ghế salon, một thanh niên ngồi giữa trên ghế “cúi đầu bấm cái gì đó, có ánh đèn màu sáng hiện lên”. Anh Thường khai đoán thanh niên đang bấm điện thoại.

“Người thanh niên để tóc 2 mái, khi cúi xuống tóc phủ lên mí mắt, không cắt cao như đầu đinh, không để dài quá tai. Thanh niên mặc áo thun ngắn, tay màu sáng đen hoặc xanh đen, có cổ áo hay không thì không xác định... Tôi đứng cách đó khoảng 5-6m, tôi hỏi: Chị gì cho tôi gọi điện thoại. Về nhận dạng, tôi thấy chiếc xe Dream màu nho đỗ gần xe tôi. Trên chiếc xe đấy, tôi không thấy con số nào hết”, trích lời khai của nhân chứng được công bố hôm nay.

Đồng thời, cũng trong lời khai của mình, nhân chứng Đinh Vũ Thường xác nhận nam thanh niên ngồi ghế salon chỉ nhìn thoáng qua, không nhớ mặt. Nhân chứng cũng không thể nhận dạng qua khuôn mặt.

“Cơ sở nào Tòa vẫn tiến hành xét xử vụ án khi không triệu tập nhân chứng Đinh Vũ Thường? Việc vắng mặt Thường tại phiên tòa có ảnh hưởng đến kết quả xét xử không? Vấn đề này, Luật sư Trần Hồng Phong đã nêu lên và nhấn mạnh là rất quan trọng”, đại diện Hội đồng Thẩm phán nêu câu hỏi.

Lý giải về vấn đề này, đại diện Tòa sơ thẩm cho hay, sau khi thẩm tra vụ án có lấy lời khai nhân chứng Đinh Vũ Thường. Nhân chứng này có khai phù hợp với lời khai của Hồ Duy Hải và lời khai của các nhân chứng khác về thời gian tối hôm đó có mặt Hồ Duy Hải.

Đồng thời, đại diện Tòa sơ thẩm nêu rõ, Hồ Duy Hải cũng không nói về giờ, nhưng nói thời điểm đó có mặt ở Bưu điện Cầu Voi. Theo Tòa sơ thẩm, việc vắng mặt Đinh Vũ Thường không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì đã có lời khai trong quá trình điều tra.

“Có lời khai của nhân chứng Đinh Vũ Thường, tại sao không đưa vào hồ sơ vụ án?”, đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao chất vấn.

Trả lời về việc này, điều tra viên của vụ án cho biết, ngày 19/1/2008, cơ quan điều tra lấy lời khai lần đầu tiên với Đinh Vũ Thường. Nhân chứng Thường khai là người xuất hiện tại hiện trường vào tối xảy ra vụ án. Khi đó, cơ quan điều tra xác định làm việc với Thường với tư cách là đối tượng tình nghi trong vụ án. Quá trình làm việc đã tập trung làm rõ về thời gian có mặt, nhân thân, nhận dạng. Sau đó, cơ quan điều tra lưu hồ sơ với các đối tượng tình nghi khác.

“Nên cơ quan điều tra lưu hồ sơ lời khai của Thường với tư cách là đối tượng tình nghi phạm tội chứ không phải là nhân chứng vụ án”, điều tra viên phân trần.

Tiếp đến, đại diện Hội đồng Thẩm phán tiếp tục nêu vấn đề, cơ quan điều tra có kiểm tra danh sách điện thoại của Bưu điện Cầu Voi hay không? Nếu có thì trong ngày 13/1/2008 có số điện thoại nào của Hồ Duy Hải gọi đến bưu điện hay không?

Trả lời về vấn đề này, Cơ quan Cảnh sát điều tra cho biết, quá trình truy xét đã căn cứ dữ liệu bộ nhớ điện thoại của Bưu điện Cầu Voi.

“Theo căn cứ truy xét này, vào lúc 11 giờ 25 phút ngày 13/1/2008, có số điện thoại là 0909015712 gọi vào số điện thoại bàn của bưu điện, thời lượng gọi là 25 giây. Từ cuộc điện thoại này, điều tra viên truy ra ai là người sử dụng số điện thoại này, từ đó xác minh được số điện thoại của Hồ Duy Hải”, đại diện Cơ quan Điều tra nhấn mạnh.

Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình cho hay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao còn băn khoăn về việc tính toán xem thời gian đó Hồ Duy Hải có mặt ở hiện trường hay không. Trên thực tế, căn cứ thời gian các hoạt động của Hải tối hôm đó thì chưa hợp lý.

“Nhưng sự có mặt của Hải không chỉ chứng minh bằng thời gian, mà theo cơ quan điều tra giải trình, còn bằng những chứng cứ khác. Chúng ta phải tổng hợp chứng cứ, mới chứng minh được vấn đề này”, ông Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh.

Theo đó, thứ nhất là dữ liệu điện thoại. Thứ hai, thực nghiệm điều tra về khoảng thời gian Hải có mặt tại hiện trường là phù hợp. Thứ ba, nhận dạng trong lời khai của nhân chứng Thường chưa xác nhận chính xác thanh niên đó là Hải vì hai người này không biết nhau, không thể nhìn qua là nhận dạng được. Nhưng mô tả đặc điểm nhận dạng là tương đồng, đặc biệt có một chi tiết phù hợp lời khai của Hải là cầm điện thoại và anh Thường cũng nhìn thấy.

VKSND Tối cao đề nghị thực nghiệm lại hiện trường vụ án Hồ Duy Hải

Sau phát biểu của Chánh án TAND Tối cao, đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã có ý kiến phản hồi. Cụ thể, đại diện VKSND Tối cao nhận thấy, kết luận về thời gian của Hồ Duy Hải có mặt ở bưu điện Cầu Voi đều từ những chứng cứ gián tiếp.

Theo Đại diện Viện Kiểm sát, dữ liệu của bưu điện có cuộc điện thoại của Hải, nhưng là từ buổi trưa (lúc 11 giờ 25 phút ngày 13/1/2008), không có ý nghĩa chứng minh gì.

Thứ hai là lời khai của nhân chứng chỉ nói nhìn thấy có một thanh niên, cũng chỉ nói về khoảng thời gian là “khoảng 19 giờ nhìn thấy”. Cụ thể, anh Đinh Vũ Thường nói có nhìn thấy gì “có ánh đèn màu sáng” nhưng cũng không có căn cứ chứng minh đấy là điện thoại. Người bán hoa quả gần bưu điện cũng chỉ xác nhận có chị V. đến mua hoa quả, còn không xác nhận được người đưa tiền cho V. mua hoa quả là Hồ Duy Hải.

Ngoài ra, điều tra viên nói về “khoảng thời gian 19 giờ” để chứng minh thì không hợp lý. Cũng chính cơ quan tố tụng dùng kết luận về “khoảng thời gian” này để xét xử vụ án.

Đại diện VKSND Tối cao phân tích rõ, việc cơ quan điều tra giải thích, anh Đinh Vũ Thường là đối tượng tình nghi nên lời khai không đưa vào hồ sơ nhân chứng. Nhưng lời khai này là một chứng cứ quan trọng trong vụ án, nên đề nghị cung cấp cho Viện Kiểm sát và Hội đồng giám đốc thẩm. Theo đó, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đề nghị cần có thực nghiệm lại hiện trường.

“Trong đó, tính cả thời gian Hải có mặt ở tiệm cầm đồ, đi trả xe rồi từ đó đến bưu điện. Chứ chúng ta không ngồi đây để suy diễn về khoảng thời gian”, đại diện Viện Kiểm sát phân tích.

Chưa hết, đại diện VKSND Tối cao còn đánh giá, Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã có sai lầm nghiêm trọng trong việc đánh giá động cơ, mục đích. Bởi khi xét xử, Tòa án phải đánh giá toàn diện những vấn đề đó, từ đó đề nghị, hai bản án đó phải hủy và xem xét lại.

Sau khi lắng nghe quan điểm của đại diện VKSND Tối cao, Chánh án Nguyễn Hòa Bình đồng thuận cho đây là những chứng cứ gián tiếp. Tuy nhiên, theo ông, nếu tách ra từng lời khai, tình tiết, chứng cứ một cách độc lập không nói lên điều gì, nhưng tổng hợp lại sẽ có vấn đề.

“Tại sao lại có nhiều vấn đề trùng hợp nhau đến như vậy với lời khai của Hải. Nên chúng ta không thể lấy từng việc, chẻ ra để phủ định từng cái”, ông Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh đồng thời đề nghị, đến phần đánh giá chứng cứ, các thẩm phán sẽ đánh giá tổng thể các chứng cứ.

Còn về phần tài liệu Luật sư Trần Hồng Phong cung cấp về lời khai của Đinh Vũ Thường ngày 17/12/2011, Chánh án Nguyễn Hòa Bình đề nghị VKSND Tối cao đánh giá tính hợp pháp của văn bản này.

Trước đó, Luật sư Trần Hồng Phong đề cập giấy xác nhận của nhân chứng Đinh Vũ Thường, trong đó nhân chứng khẳng định: “Không được các cấp tòa mời tham gia vụ án với tư cách nhân chứng”.

Trong khi đó, lời khai của Đinh Vũ Thường nói không nhận dạng được Hồ Duy Hải, nhưng trong cáo trạng nêu Thường đã nhìn thấy Hồ Duy Hải tại khu vực Bưu điện Cầu Voi buổi tối vụ án diễn ra. Đây là điểm bất hợp lý.

Theo đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, tài liệu này phát sinh trong giai đoạn xét xử. Với phạm vi của xét xử giám đốc thẩm, theo đại diện VKSND Tối cao, không chỉ xem xét trong nội dung kháng nghị, mà còn đánh giá tất cả các vấn đề liên quan vụ án.

Tuy nhiên, Chánh án Nguyễn Hòa Bình cho rằng chứng cứ này là bản photo, chưa có công chứng, không giám định chữ viết, chữ ký nên không đủ tin tưởng là chữ ký của ai.

“Nên không thể đưa ra để làm căn cứ xét xử được”, Chánh án Nguyễn Hòa Bình cho biết.

Đồng thời, về mặt nội dung, chứng cứ này không có gì mới so với nội dung kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.

Mâu thuẫn giữa khám nghiệm hiện trường và lời khai nhận tội

Trước đó, chiều 6/5, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã tiếp tục phiên xét xử giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải, với phần tranh luận giữa đại diện tòa án, viện kiểm sát và điều tra viên.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, chủ tọa phiên tòa, đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân tích rõ thêm về 2 nội dung đã nêu trong kháng nghị. Trước hết là mâu thuẫn về thời gian sau khi gây án.

Theo đó, nhân chứng Đinh Vũ Thường khai đến bưu điện Cầu Voi gọi điện về Cà Mau lúc 19h39, khi đó nhân chứng có nhìn thấy một thanh niên ngồi trong bưu điện. Tuy nhiên, cũng theo kết luận điều tra, vào lúc 19h13, Hải đang có mặt tại hiệu cầm đồ sau đó quay về nhà bà Len (dì ruột) trả xe.

Tính toán quãng đường và thời gian, VKSND Tối cao cho rằng Hải không thể có mặt tại Bưu điện lúc 19h39 như đã ghi trong kết luận điều tra.

Ngoài ra, VKSND Tối cao cũng chỉ ra một số mâu thuẫn khác. Theo đó, ban đầu bị cáo Hồ Duy Hải khai sau khi gây án thì trở về nhà, do cửa không khóa nên bị cáo vào ngủ mà không ai biết. Sau đó, Hải lại khai tự lấy chìa khóa mở cửa vào nhà. Trong một bản cung khác, Hải lại khai khi về cửa nhà còn mở và tự dẫn xe vào nhà, bị cáo gọi Nguyễn, con dì Út, đóng cửa hộ…

Tiếp đó, kháng nghị cũng chỉ ra mâu thuẫn rất lớn giữa kết quả khám nghiệm hiện trường với lời khai nhận tội của Hồ Duy Hải. Theo đó, Hồ Duy Hải khai đã đập đầu, mặt chị H. vào lavabo (chậu rửa mặt), nhưng kết quả khám nghiệm không thể hiện các dấu vết ở lavabo.

Đánh giá về những mâu thuẫn này, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng những lời khai này không nhất quán về hành động của Hồ Duy Hải sau vụ án, do đó Viện Kiểm sát quyết định kháng nghị làm rõ.

Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 8h10 ngày 14/1/2008 cho biết, trên bàn bếp có ly, tô, dĩa đã sử dụng chưa rửa; khu vực nền nhà tắm và lavabo khô ráo, mở vòi nước trên lavabo không có nước chảy.

Trong khi đó, hồ sơ vụ án lại ghi rằng, Hải có nhiều lời khai về việc đi ra nhà tắm mở vòi nước rửa tay, rửa dao cho sạch máu. Hải khai đã đập đầu, mặt chị H. vào lavabo nhưng kết quả khám nghiệm không thể hiện các dấu vết ở lavabo.

“Tại sao trong biên bản khám nghiệm hiện trường lại thể hiện không để lại dấu vết trên lavabo?”, đại diện Viện Kiểm sát đặt câu hỏi.

Trả lời về vấn đề này, điều tra viên Lê Thành Trung lý giải ban đầu, do Hồ Duy Hải sợ bị mức án cao nên khai thiếu một số tình tiết và thừa một số tình tiết để kéo dài thời gian điều tra.

Đến các bản hỏi cung ngày 27/6/2008, 7/7/2008, 11/7/2008 khi có sự tham gia của điều tra viên và kiểm sát viên, Hải đã khai toàn bộ sự thật.

Ngày 7/7, Hải cam kết: “Nếu lời khai hôm nay mâu thuẫn với những lời khai trước thì lời khai hôm nay là lời khai đúng”.

Các biên bản này cũng giải trình tất cả mâu thuẫn trong các lời khai khác. Bút lục 98 cho biết, Hải không đập đầu nạn nhân ở lavabo mà dùng thớt đập đầu ở cầu thang.

Trong bản hỏi cung, Hải khai: “Tôi khai là đập đầu nạn nhân vào nắp lavabo trong nhà vệ sinh nhưng thực tế là đập bằng thớt ở chân cầu thang... Tôi chính là thủ phạm gây ra cái chết cho 2 nạn nhân, nhưng quá trình khai báo, do tư tưởng không ổn định, tôi cố tình khai thiếu hoặc thừa tình tiết để kéo dài thời gian điều tra”.

Điều tra viên thừa nhận sơ suất trong vụ Hồ Duy Hải

Đại diện Viện Kiểm sát tiếp tục đặt câu hỏi về cách thức Hải tấn công nạn nhân:

“Căn cứ vào đâu mà kết luận Hải dùng thớt đập vào đầu nạn nhân chứ không phải đập đầu vào lavabo?. Có dấu vết ở nắp lavabo hay không?”, đại diện VKSND Tối cao băn khoăn.

Theo điều tra viên, trong bản cung ngày 7/7/2008, Hải khẳng định dùng thớt đập đầu nạn nhân ở chân cầu thang chứ không phải dùng tay đập đầu vào nắp lavabo. Như vậy, có thể nói lời khai này phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường.

Cùng với đó, kết quả khám nghiệm tử thi cũng thể hiện vùng đầu nạn nhân H. có nhiều vết tụ máu, vết rách... Điều này chứng tỏ vùng đầu, mặt của nạn nhân đã bị va đập, có tác động của vật cứng.

“Do sơ suất của điều tra viên trong khám nghiệm hiện trường, nhận định của điều tra viên còn hạn chế, chưa xác định rõ dấu vết, nhận định khả năng hung khí gây ra là dao nên trong quá trình khám nghiệm không chú tâm vào hung khí là thớt. Đây là thiếu sót của cơ quan điều tra, xin nhận khuyết điểm này”, điều tra viên trả lời câu hỏi tại sao khám nghiệm hiện trường không thu được vật chứng là cái thớt.

Điều tra viên cho biết, căn cứ để kết luận điều tra dựa vào biên bản khám nghiệm hiện trường phản ánh có thớt ở vị trí vết máu, phù hợp với lời khai của bị can Hồ Duy Hải, phù hợp kết quả giải phẫu tử thi nạn nhân.

Có hay không chuyện Hồ Duy Hải hiếp dâm nạn nhân?

Kháng nghị của VKSND Tối cao cũng có nêu mâu thuẫn trong các lời khai của Hồ Duy Hải.

Bút lục 82 cho rằng Hải định quan hệ tình dục nhưng vì bị chị Hồng phản ứng nên bỏ xuống nhà vệ sinh. Tuy nhiên, bút lục 89 lại ghi Hải khống chế chị Hồng, cởi hết quần áo của nạn nhân.

Trong khi đó, bút lục 101 lại ghi Hải khống chế chị Hồng, tuy nhiên chưa làm gì được thì bị chị Hồng đạp vào bụng bật ra, chị Hồng bật dậy chạy ra ngoài.

Theo điều tra viên, tại biên bản hỏi cung có kiểm sát viên tham gia, Hải đã khai không thực hiện hành vi hiếp dâm. Lời khai đó phù hợp với kết quả khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường.

Chánh án Nguyễn Hòa Bình đặt câu hỏi về bằng chứng cụ thể cho thấy bị can Hồ Duy Hải không hiếp dâm nạn nhân. Điều tra viên cho biết, khám nghiệm pháp y nạn nhân Hồng ghi nhân có chất nhầy trong âm đạo, nhưng không có tinh trùng. Trong khi đó, thi thể chị Vân không có dấu vết xộc xệch quần áo, không có chấn thương và chị Vân còn màng trinh.

Theo kiểm sát viên cấp phúc thẩm, Hải nảy sinh ham muốn quan hệ tình dục với chị Hồng nên mới đưa tiền cho chị Vân đi mua trái cây. Sau đó, Hải giữ tay chị Hồng rồi xuất tinh ra áo. Tại hiện trường, áo của nạn nhân Hồng bị lật lên lộ hai vú, có chất nhầy trong âm hộ. Do vậy, ở đây đã có dấu hiệu bỏ lọt tội hiếp dâm.

Thành viên Hội đồng Thẩm phán đặt câu hỏi, trong kháng nghị của VKSND Tối cao chỉ nêu có mâu thuẫn trong lời khai của Hải, không nhắc đến hành vi hiếp dâm. Bây giờ lại nói có dấu hiệu bỏ lọt tội hiếp dâm nên đề nghị VKS giải thích rõ.

Trong khi đó, một Thẩm phán khác nói VKSND Tối cao kháng nghị cho rằng chưa đủ căn cứ chứng minh Hải có mặt tại hiện trường, nay lại nói đến hành vi hiếp dâm của Hải. Như vậy có phải là xác nhận Hải có mặt tại hiện trường không?

Chủ tọa phiên tòa lưu ý VKSND Tối cao khi cần nêu rõ ràng, đầy đủ trong khi viết kháng nghị.

“Bây giờ nói lọt tội hiếp dâm nhưng kháng nghị viết không rõ, thành ra thiếu tội danh. Khi đánh giá, Hội đồng sẽ xem xét tình tiết bị cáo hiếp dâm nhưng lại xuất tinh ra áo thì có phù hợp với tâm lý tội phạm hay không”, Chánh án TAND Tối cao đặt vấn đề.
Những vấn đề về vật chứng trong vụ Hồ Duy Hải

Hồ sơ vụ án cho biết, bị can Hồ Duy Hải sát hại 2 nữ nhân viên bưu điện Cầu Voi bằng ghế, dao, thớt. Hơn 2 tháng sau khi vụ án xảy ra, cơ quan điều tra thu giữ 1 chiếc ghế inox. Tuy nhiên, chiếc ghế này có mã số khác với mã số chiếc ghế trong bản ảnh và khác với mã số ghi nhận trong biên bản khám nghiệm hiện trường.

Với vật chứng là con dao, hồ sơ thể hiện con dao gây án được một số người dọn dẹp hiện trường vụ án đem đi đốt. Do vậy, một trong những người này phải ra chợ mua một con dao khác thay thế để đưa vào hồ sơ vụ án.

Tương tự, tấm thớt được cho là vật chứng mà bị can sử dụng để đập đầu nạn nhân N.T.A.H. cũng không được cơ quan điều tra thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

Ngày 24/6/2008, tức là hơn 5 tháng sau, theo yêu cầu của cơ quan điều tra, bà Lê Thị Thu Hiếu (bạn của 2 nạn nhân) mới đi mua một tấm thớt gỗ khác về nộp cho cơ quan điều tra để làm vật mô phỏng.

Ngày 22/11/2019, viện trưởng Viện KSND tối cao ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, đồng thời hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên với Hồ Duy Hải để điều tra lại.

Kháng nghị của Viện KSND tối cao nêu rõ, bản án sơ thẩm và phúc thẩm có nhiều nhận định và kết luận chưa phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; việc thu thập, đánh giá chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ; nhiều nội dung cần chứng minh của vụ án còn mâu thuẫn nhưng lại chưa được làm rõ.

Những điểm mâu thuẫn, chưa được làm rõ trong hồ sơ có thể kể đến như việc dấu vân tay ở hiện trường không trùng với 10 ngón tay của Hồ Duy Hải. Tuy nhiên, các dấu vân tay này là của ai thì cơ quan tố tụng chưa làm rõ.

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn có nhiều vi phạm tố tụng khi không thu tang vật để truy nguyên mà đã tiêu hủy ngay sau khi khám nghiệm hiện trường, không lấy lời khai nhân chứng, không điều tra các đối tượng tình nghi khác, không trưng cầu giám định vết máu, không đưa một số lời khai của Hồ Duy Hải và người làm chứng vào hồ sơ vụ án.