05:18 22 Tháng Mười 2020
Việt Nam
URL rút ngắn
0 0
Theo dõi Sputnik trên

Theo Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, ông Đinh Hồng Hải, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại, xây dựng, kinh doanh nhà Tân Hồng Uy có hành vi lừa đảo chiếm đoạt trên 80 tỷ đồng.

Chủ tịch Tân Hồng Uy lừa đảo chiếm đoạt hơn 80 tỷ đồng

Mới đây, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C03) cho biết đang điều tra, xác minh vụ việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại, xây dựng, kinh doanh nhà Tân Hồng Uy (viết tắt Công ty Tân Hồng Uy), Công ty cổ phần Otran miền Nam, Ngân hàng BIDV chi nhánh Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Quá trình điều tra có căn cứ xác định Đinh Hồng Hải, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại, xây dựng, kinh doanh nhà Tân Hồng Uy có hành vi sử dụng 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bán cho 13 hộ dân làm tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng của Công ty cổ phần Otran miền Nam vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Nam Kỳ Khởi Nghĩa, chiếm đoạt trên 80 tỷ đồng.

Trước đó, ngày 3/6, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đinh Hồng Hải về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174, Bộ Luật hình sự 2015.

Sau khi Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao phê chuẩn Quyết định và Lệnh tố tụng nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã tống đạt, triển khai thực hiện đúng quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đang tiếp tục khẩn trương mở rộng điều tra vụ án, củng cố tài liệu chứng cứ để làm rõ hành vi phạm tội của các đối tượng liên quan, xác minh tài sản để kê biên, thu hồi triệt để theo quy định của pháp luật.

Ông Đinh Hồng Hải tại cơ quan điều tra.
© Ảnh : Bộ Công an
Ông Đinh Hồng Hải tại cơ quan điều tra.

Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam

Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Theo đó, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ Luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.