02:49 31 Tháng Mười 2020
Việt Nam
URL rút ngắn
10
Theo dõi Sputnik trên

Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức có mặt trong bảng xếp hạng QS Top 50 Under 50 2021, dành cho các trường đại học có thời gian thành lập dưới 50 năm.

Lần đầu tiên ĐHQG Hà Nội có mặt trong nhóm 101-150 đại học hàng đầu thế giới

Ngày 24/6, Tổ chức xếp hạng đại học QS (Quacquarelli Symonds, Anh) – một tổ trong những tổ chức xếp hạng uy tín nhất hiện nay, vừa công bố kết quả cho bảng xếp hạng QS Top 50 Under 50 2021, dành cho các trường đại học có thời gian thành lập dưới 50 năm.

Theo đó, Đại học Quốc gia (ĐHQG) Hà Nội lần đầu tiên có mặt trong bảng xếp hạng này, với vị trí trong nhóm 101-150 các trường đại học trẻ tuổi có chất lượng giáo dục hàng đầu trên thế giới. Như vậy, ĐHQG Hà Nội cùng với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trở thành 2 cơ sở giáo dục đại học duy nhất của Việt Nam lọt vào Bảng xếp hạng này.

Tổ chức xếp hạng đại học QS công bố bảng xếp hạng QS Top 50 Under 50 lần đầu tiên vào năm 2012 nhằm vinh danh các trường đại học trẻ có chất lượng đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới.

Về điều kiện tham gia, các cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng trong bảng này phải được thành lập từ sau năm 1970, do đó, các trường có trên 50 tuổi sẽ không được xét. Đối với các cơ sở giáo dục được hình thành trên cơ sở sát nhập từ các cơ sở giáo dục cũ, QS sẽ công nhận thời điểm thành lập trường tại mốc thời gian sát nhập.

Ban đầu, bảng xếp hạng này chỉ xếp hạng cho 50 trường, nhưng từ năm 2015, bảng xếp hạng mở rộng quy mô thêm 100 trường.

ĐHQG Hà Nội là đại học đa ngành, đa lĩnh vực, có đơn vị tiền thân là ĐH Đông Dương (thành lập năm 1906), tuy nhiên, đến năm 1993, ĐHQG Hà Nội được Chính phủ thành lập trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại 3 trường đại học ở Hà Nội: Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội I và Trường ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội (theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ), do đó được xếp vào các trường đại học dưới 50 tuổi.

Uy tín học thuật và chất lượng đào tạo của ĐHQG Hà Nội đã được nhiều tổ chức xếp hạng Châu Á và thế giới ghi nhận. Mới đây nhất, tại bảng xếp hạng đại học QS Thế giới 2021 (QS World University Rankings 2021 – QS WUR 2021) công bố ngày 10/6/2020, ĐHQG Hà Nội thứ 3 liên tiếp đứng trong nhóm 801-1000 các trường đại học tốt nhất toàn cầu.

Trước đó, ĐHQG Hà Nội lần đầu tiên có mặt trong Bảng xếp hạng các trường đại học khu vực Châu Á năm 2020 do tạp chí Times Higher Education (THE Asia) công bố ngày 4/6/2020 với vị trí trong nhóm 201-250, đứng đầu Việt Nam về xếp hạng tổng thể và có điểm cao nhất về các tiêu chí quan trọng là Giảng dạy, Nghiên cứu, Quốc tế hóa.

Trường Đại học Kinh tế TP.HCM được vinh danh đóng góp cho sự phát triển nghề nghiệp suốt đời

Ở bảng xếp hạng khác, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh là 1 trong 3 trường đại học thuộc Châu Á được vinh danh vào top “25 trường đại học có đóng góp cho sự phát triển nghề nghiệp suốt đời” thuộc lĩnh vực Chuyển giao tri thức do U-Multirank xếp hạng. Đây là lần thứ 4, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong top 25 của bảng xếp hạng này.

Hai trường đại học còn lại của Châu Á là Asian Institute of Technology (viết tắt là AI, ở Thái Lan) và Al-Nisour University College (Iraq). Các đơn vị lọt top xếp hạng được chọn lọc từ danh sách 11.759 trường đại học trên 96 quốc gia.

Hạng mục này liên quan đến lĩnh vực chuyển giao tri thức bên ngoài, theo đó đánh giá mức độ linh hoạt của 1 trường đại học trong việc cung cấp phục vụ sự phát triển nghề nghiệp lâu dài cho các cá nhân và tổ chức bên ngoài.

U-Multirank là là tổ chức độc lập xếp hạng các trường đại học trên thế giới, với nguồn tài trợ đến từ chương trình Erasmus+ của Ủy ban Châu Âu. U-Multirank cung cấp đánh giá đa chiều về các trường đại học và cao đẳng khắp thế giới, nhằm định hướng cho người học.

Hàng năm, U-Multirank công bố danh sách 25 trường đại học có chỉ số đánh giá tốt nhất thuộc các hạng mục: Nghiên cứu (Số lượng ấn phẩm nghiên cứu (số tuyệt đối), Số lượng ấn phẩm được trích dẫn hàng đầu, Số lượng ấn phẩm liên ngành); Chuyển giao tri thức (Số lượng ấn phẩm chung với các đối tác trong ngành, Số lượng bằng sáng chế được cấp, Đóng góp cho sự phát triển nghề nghiệp suốt đời); Định hướng quốc tế (Sự dịch chuyển của sinh viên trong các chương trình liên kết quốc tế, Số lượng ấn phẩm cùng nghiên cứu với tác giả quốc tế; Liên kết nghiên cứu khu vực (Số lượng ấn phẩm cùng nghiên cứu với tác giả địa phương “bán kính 50 km”); Giảng dạy và học tập (Tỷ lệ sinh viên – giảng viên “không tính đội ngũ nghiên cứu”).