03:46 04 Tháng Sáu 2020
Hợp tác Nga-Việt
URL rút ngắn
Theo
70
Theo dõi Sputnik trên

Lần thứ hai, sau ngày 5/8/1964, ngày 7/2/1965, không quân Mỹ đã khởi động chiến dịch ném bom vào lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chiến dịch này được đặt tên là “Mũi lao lửa”.

Không đe dọa nổi Thủ tướng Liên Xô

Chính trong ngày 7/2/1965 này, cuộc hội đàm Xô-Việt đã được tổ chức tại Hà Nội, đoàn đại biểu phía Liên Xô sang dự do Thủ tướng Kosygin dẫn đầu. Và nếu mục đích của Mỹ là đe dọa, để cảnh báo lãnh đạo Liên Xô không giúp đỡ Việt Nam, thì kết quả cuộc không kích là hoàn toàn ngược lại.

Theo các nhân chứng, vốn là người luôn bình tĩnh và kiềm chế, Thủ tướng Kosygin khi đó đã thực sự nổi giận vì sự trắng trợn của Mỹ. Dừng cuộc đàm phán, ông gọi về Moskva báo cáo với ban lãnh đạo đất nước và Đảng rằng, theo ông, câu trả lời cho dân chủ Mỹ cần quy mô hơn và nhanh chóng hơn so với kế hoạch Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam trước đó.

Lập trường của ông Kosygin được Moskva hoàn toàn ủng hộ. Tại cuộc hội đàm Hà Nội, tất cả các thỏa thuận có liên quan đã được ký kết. Đặc biệt là thỏa thuận về việc thành lập bốn trung đoàn tên lửa phòng không trong Quân đội nhân dân Việt Nam, triển khai các chuyên gia quân sự Liên Xô, các thiết bị quân sự và vũ khí hiện đại nhất cho Việt Nam.

Quyết định được đưa ra một cách kịp thời bởi từ ngày 2 tháng 3 năm 1965, Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam thường xuyên hơn. Trong những năm xâm lược, không lực Hoa Kỳ đã trút 6,7 triệu tấn bom xuống cả miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Để so sánh, trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân Đồng minh đã thả 2,7 triệu tấn bom (ít hơn 2,5 lần) xuống nước Đức phát xít.

Kể từ mùa xuân năm 1965, vũ khí và thiết bị từ Liên Xô đã được cung cấp cho Hà Nội với số lượng mà phía Việt Nam đủ sức sử dụng. Toàn bộ số viện trợ này đều không hoàn lại.

Tiêm kích MiG-21 của Không quân Việt Nam.
© Ảnh : Thời đại
Tiêm kích MiG-21 của Không quân Việt Nam.

Những người anh hùng bầu trời Việt Nam

Vào thời điểm đó, các thiết bị quân sự được gửi cho Việt Nam đều thuộc loại hiện đại nhất. Chẳng hạn, máy bay ném bom SU-17, máy bay ném bom IL-28, máy bay vận tải IL-14 và LI-2. Máy bay chiến đấu và MiG-21 trở nên nổi tiếng nhất trên bầu trời Việt Nam. MiG-17 được sử dụng trong chiến đấu từ tháng Tư năm 19 65, còn MiG-21 – từ tháng Ba năm 1966. MiG-17 cho thấy hiệu quả cao nhất ở độ cao lên tới 3 km, MiG-21 - ở độ cao từ 2-9km. Chiến sĩ tham gia bảo vệ bầu trời Hà Nội trong chiến dịch Mỹ ném bom nhan dịp Giáng sinh năm 1972, phi công Phạm Tuân, đã bắn hạ "B-52", sau đó trở thành nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Việt Nam. Tên tuổi các phi công đạt cấp Ách như Nguyễn Văn Cốc, người bắn hạ 9 máy bay Mỹ, Mai Văn Cương và Nguyễn Hồng Nhị – 8 máy bay, Nguyễn Văn Bảy – 7 máy bay, mãi mãi được ghi vào lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong khi đó, phi công xuất sắc của Hoa Kỳ là de Belive chỉ đạt được 6 chiến thắng trên không trong chiến tranh Việt Nam.

Lá chắn tên lửa Việt Nam

Các hệ thống tên lửa phòng không “S-75 Dvina” của Liên Xô có khả năng bắn trúng các mục tiêu trên không ngay cả ở độ cao 25 km. Đây là những quả đạn nguy hiểm nhất từng được phóng từ trái đất tới máy bay, Tạp chí Kỹ thuật Quân sự Hoa Kỳ tuyên bố thời đó. Trong trận đầu tiên với máy bay Mỹ ngày 24 tháng 6 năm 1965, 3 chiếc Phantom của đối phương đã bị tên lửa Liên Xô bắn hạ - ngày nay đã trở thành Ngày lực lượng tên lửa Việt Nam. Đơn vị do Thiếu tá Liên Xô Tereshchenko chỉ huy đã trải qua 11 trận chiến đấu và bắn hạ 10 chiếc máy bay Mỹ. Thiếu tá Ryzri trong 9 trận chiến đã bắn hạ 8 chiếc. 8 máy bay Mỹ trong 10 trận chiến đã bị đại úy Bogdanov bắn hạ. Người giữ kỷ lục là cựu chiến binh Chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức, Trung tá Fedor Ilyinykh. Đơn vị của ông đã tổ chức ở Việt Nam 18 trận, bắn hạ 24 máy bay Mỹ.

Các chuyên gia tên lửa Liên Xô đã thực hiện các lần bắn đạn thật đầu tiên, đồng thời huấn luyện bộ đội Việt Nam sử dụng tên lửa. Chưa đầy một năm, họ đã huấn luyện được mười trung đoàn tên lửa phòng không và ba trung đoàn công binh vô tuyến của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đóng góp quan trọng cho việc đào tạo nhân sự cho lực lượng phòng không Việt Nam được thực hiện bởi các trung tâm huấn luyện ở Liên Xô. Chỉ riêng trong những năm 1966-1967, năm trung đoàn tên lửa phòng không Việt Nam với tổng số khoảng 3000 người đã được huấn luyện tại các trung tâm đó.

Tên lửa của Liên Xô S-75 Dvina
© Flickr / brewbooks
Tên lửa của Liên Xô S-75 "Dvina"

Kể từ mùa xuân năm 1966, các đơn vị của Việt Nam bắt đầu bắn tên lửa. Các sĩ quan tên lửa Trần Sanh, Phạm Trường Huy, Nguyễn Xuân Đài thực sự là những anh hùng. Đơn vị do Trần Sanh chỉ huy đã bắn hạ 196 máy bay địch. Sư đoàn của trung úy Phạm Trường Huy bắn rơi 43 máy bay, sư đoàn thiếu úy Nguyễn Xuân Đài – 40 chiếc.

Nói chung, các đơn vị tên lửa phòng không Việt Nam, được tạo ra và huấn luyện bởi các chuyên gia Liên Xô đã đến nước cộng hòa hồi tháng Tư năm 1965, đã bắn 3328 phát tên lửa, tiêu diệt gần 1300 máy bay Mỹ, trong đó có 54 máy bay ném bom chiến lược B- 52.

Bảo vệ Việt Nam là nhiệm vụ chung

Xe tăng T-55, phiên bản sửa đổi của xe tăng T-34 tốt nhất thời Thế chiến II, cũng đã được chuyển đến Việt Nam. Còn súng trường tấn công Kalashnikov nổi tiếng thế giới đã mang lại cho từ vựng tiếng Việt một thuật ngữ mới là khẩu "Ak".

Tổng cộng, từ tháng 4/1965 đến cuối năm 1972, ngoài các xe bọc thép, súng cối, tàu chiến và súng phòng không, Moskva đã giao Hà Nội 95 hệ thống phòng không Dvina và hơn 7.600 tên lửa cho chúng, 687 xe tăng và hơn 300 máy bay chiến đấu.

Theo Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, từ tháng 7 năm 1965 đến tháng 12 năm 1964, khoảng 11000 binh sĩ và tướng lĩnh Quân đội Liên Xô đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam.

Xe tăng T-55
© Flickr / Eric Kilby
Xe tăng T-55