20:48 22 Tháng Sáu 2021
Hợp tác Nga-Việt
URL rút ngắn
Theo
50
Theo dõi Sputnik trên

«Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức độc đáo. Không chỉ trong khu vực mà cả trên tầm thế giới có rất ít tổ chức như Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ trong một thời gian ngắn có thể thực hiện đồng thời mấy siêu dự án chính trị phức tạp bậc nhất», - Viktor Sumskiy chuyên gia hàng đầu của Trung tâm Nghiên cứu ASEAN.

«Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức độc đáo. Không chỉ trong khu vực mà cả trên tầm thế giới có rất ít tổ chức như Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ trong một thời gian ngắn có thể thực hiện đồng thời mấy siêu dự án chính trị phức tạp bậc nhất: hoạch định và thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chống thực dân, hoạch định và thực hiện cuộc thống nhất đất nước bị chia cắt ngay trong thời kỳ cao điểm của Chiến tranh lạnh, hoạch định và thực hiện thành công cuộc cải cách kinh tế - xã hội».

Đặc điểm này của Đảng Cộng sản Việt Nam do chuyên gia Đông phương học nổi tiếng của Nga Viktor Sumskiy nêu ra tại bàn tròn khoa học vừa được tổ chức tại Viện Viễn Đông (Viện Hàn lâm Khoa học LB Nga) theo chuyên đề «Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc kiến tạo đất nước và kết quả Đại hội XIII».

Theo nếp truyền thống Viện Viễn Đông (Viện Hàn lâm Khoa học LB Nga) phối hợp cùng với các đồng nghiệp Việt Nam tổ chức cuộc thảo luận chuyên đề về những sự kiện quan trọng nhất trong đời sống đất nước. Lần này, hội thảo bàn tròn tiến hành theo chế độ trực tuyến online trong hai ngày có sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học từ Viện Viễn Đông, các Viện nghiên cứu Phương Đông, Viện Kinh tế và Nhân khẩu học thuộc Viện HLKH Nga, các trường ĐHTH Quốc gia Matxcơva, Saint-Peterburg, Tiumenskiy, ĐHTH Liên bang Viễn Đông, ĐHTH Hữu nghị các dân tộc và Học viện Ngoại giao thuộc cơ quan đối ngoại của LB Nga. Đại diện phía Việt Nam có các chuyên gia từ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng, Viện Nghiên cứu châu Âu thuộc Viện HLKH Việt Nam và ĐHQG Hà Nội, Đại học Kinh tế và Học viện Tin học. Dự bàn tròn lần này còn có các nhà nghiên cứu từ ĐHTH Tohoku Nhật Bản, Viện Đông phương Paris và ĐHTH Lumiere Lyon (Pháp) cũng tham gia thảo luận, chứng tỏ sự quan tâm ngày càng tăng của cộng đồng khoa học quốc tế dành cho Việt Nam và thực tế mở rộng liên hệ quốc tế của giới khoa học Nga.

Hội nhập là một trong những yếu tố thành công

Hội thảo bàn tròn bao quát loạt đề tài rộng lớn. Phân tích các quyết sách của Đại hội XIII, các thành viên dự hội nghị đã thảo luận về những ưu tiên và nhiệm vụ trong chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tiến trình chính trị hiện đại bên trong đất nước, các mô hình và lộ trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, thực trạng thông tin - giáo dục, cũng như chính sách của Đảng cầm quyền trong văn hóa, nhân khẩu và giáo dục thanh niên… Các báo cáo ghi nhận vai trò đặc biệt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám và sự nghiệp giữ vững phát huy thành quả cách mạng.

«Việt Nam có ưu thế nền tảng nổi bật so với nhiều nước láng giềng trong khu vực về đảm bảo ổn định chính trị nội bộ và tính kế thừa liên tục trong quyền lực chính trị. Trong khi hệ thống chính trị luôn do Đảng Cộng sản kiểm soát như trước, Việt Nam vẫn có thể hợp tác hiệu quả với các nước khác trong ASEAN và thiết lập cuộc đối thoại với nhiều đối tác quốc tế rộng rãi nhất, bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU và LB Nga. Đối mặt với những tình huống phức tạp về phát triển kinh tế và chính trị trong một thế giới đầy biến động, nước CHXHCN Việt Nam không đi theo con đường biệt lập (như một vài nước láng giềng trong khu vực) mà đã chọn lộ trình tích cực hội nhập liên kết vào các tiến trình quốc tế», - chuyên gia Ekaterina Koldunova Giám đốc Trung tâm ASEAN tại MGIMO nhận xét.

Chính sách đối ngoại đa phương của Việt Nam đã là sự chuẩn bị thuận lợi căn bản để đất nước chống chọi tốt với mọi sóng gió của tình hình quốc tế đồng thời nâng cao uy tín của Việt Nam trên tầm quốc tế, - học giả Nicholas Chakpman từ ĐHTH Tohoku đánh giá.

Hội nhập quốc tế là hướng then chốt trong chiến lược đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 2016–2021, đóng vai trò quan trọng to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh quốc gia, - TS Vũ Thuỳ Trang Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nga và SNG thuộc Viện Nghiên cứu châu Âu nhấn mạnh trong bản tham luận.

Dẫn ra lý thuyết của nhà khoa học Nga Nodar Simonia về các quá trình cách mạng giống như làn sóng, chuyên gia Viktor Sumsky lưu ý rằng Việt Nam đã đặt ra nhiệm vụ chuyển từ giai đoạn lịch sử cách mạng sang giai đoạn phát triển tiến hóa, bỏ qua giai đoạn trở ngược, hơn nữa đã phải thực hiện điều này trong thời đại toàn cầu phản bác chủ nghĩa cộng sản. Bằng cách liên kết hội nhập với thế giới bên ngoài, tương tác với mọi đối tác có thể, đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đang cố gắng bảo toàn những thành quả cách mạng để tiến lên.

Bí mật của sự ổn định chế độ

Hội thảo bàn tròn dành quan tâm lớn cho các tiến trình chính trị nội bộ ở Việt Nam. Trong báo cáo của mình, GS-TSKH Vladimir Kolotov Giám đốc Viện Hồ Chí Minh thuộc ĐHTH Quốc gia Saint-Peterburg đã phân tích bài viết mới nhất của Tổng Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Chuyên gia Việt Nam học của Nga nhận xét rằng bài viết của Tổng Bí thư Đảng là đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. GS Kolotov lưu ý, những đặc điểm cơ bản trong hệ thống chính trị hiện đại của Việt Nam đang tạo điều kiện thuận lợi nhất để đất nước tiến lên phía trước một cách hiệu quả.

«Đó là nét ưu việt của hệ tư tưởng, không hề giáo điều cứng nhắc mà sinh động, phát triển, dựa trên cơ sở đặc tính quốc gia dân tộc của nước mình. Ở đây một mặt là tính cứng rắn của hệ thống quyền lực, còn mặt khác là tính linh hoạt, phức hợp của nền kinh tế. Chính quyền đảm bảo sự quản lý, nề nếp trật tự ổn định của chế độ, còn thực tế đan xen các thành khác nhau tố của cơ cấu kinh tế - xã hội và chính sách mở cửa đảm bảo sự phát triển và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam».

Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản và độ cởi mở ngày càng rộng rãi của đất nước cho thế giới bên ngoài đã dẫn đến những thách thức mới như làm phức tạp cơ cấu xã hội, gia tăng phân tầng, làm nảy sinh những mâu thuẫn và xung đột mới trong cộng đồng, nhất là trong bối cảnh diễn ra cuộc cách mạng thông tin trên thế giới, - chuyên gia Grigory Lokshin nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Viễn Đông nêu nhận xét.

Phát biểu của nhiều diễn giả cho rằng tình trạng giảm sút niềm tin vào Đảng và Nhà nước, thực trạng thoái hoá của bộ phận đảng viên, nạn tham nhũng hiện là những mối đe dọa chính đối với Việt Nam. Còn PGS Đỗ Xuân Tuất từ Học viện Hồ Chí Minh có báo cáo đánh giá sự kiểm soát với quyền lực của Đảng Cộng sản trong điều kiện của hệ thống lãnh đạo độc đảng.

Nguy cơ của "bẫy thu nhập trung bình"

Tại hội thảo bàn tròn lần này có những tham luận rất thú vị về tình hình phát triển kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra nhiệm vụ đầy kỳ vọng là đến năm 2045 đưa đất nước lên tầm vóc của các quốc gia phát triển với mức tiêu dùng cao. Dựa trên cơ sở dữ liệu thống kê, báo cáo của GS-TSKH Vladimir Mazyrin đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Viễn Đông (Viện HLKH Nga), đã lưu ý đến những khó khăn trên chặng đường phấn đấu đạt tới các chỉ số đó.

«Nâng cao trình độ khoa học và kỹ thuật-công nghệ, tăng năng suất lao động song hành với đảm bảo chất lượng sản phẩm, tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế - đó là con đường trực tiếp để chuyển đổi sang mô hình phát triển kinh tế chuyên sâu cấp tiến, nhưng sẽ kéo dài đến năm 2045. Chỉ e rằng đến thời điểm đó Việt Nam sẽ bị đe dọa sa vào «bẫy thu nhập trung bình» và những nước hiện coi Việt Nam là nhà cung cấp sản phẩm khi đó có thể ngoảnh sang các nhà sản xuất giá rẻ hơn», - chuyên gia Mazyrin bày tỏ.

Báo cáo của chuyên gia Elena Burova từ Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN nhấn mạnh rằng do còn thiếu tính tổ hợp toàn diện trong việc giải quyết các vấn đề phát triển của ngành nông nghiệp, nên mặc dù có sự tăng trưởng đáng chú ý và thành tựu ấn tượng, nhưng hiệu quả nông nghiệp Việt Nam vẫn thấp, năng suất lao động giảm ở khía cạnh kinh tế vĩ mô và vấn đề lương thực vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình hình này, như nhà nghiên cứu nêu ra, là chưa có cái nhìn toàn diện trong việc sử dụng đầu tư, hỗ trợ của Chính phủ còn kém hiệu quả và thực trạng manh mún của canh tác nông nghiệp.

Còn báo cáo của nghiên cứu sinh Anna Dolinina từ Viện Các nước Á-Phi thuộc ĐHTH Quốc gia Matxcơva cho thấy đà phát triển thịnh vượng đã tác động thế nào làm thay đổi xu hướng ẩm thực của người Việt Nam, đặt ra những thách thức mới với nông nghiệp và công nghiệp, cũng như gây hiệu ứng tiêu cực với môi trường và nảy sinh sự phụ thuộc vào kinh tế đối ngoại.

Trong tiểu ban lịch sử và văn hóa, các thành viên hội thảo bàn tròn quan tâm đến tình hình phức tạp của mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô hồi đầu những năm 1960 và cách nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những kinh nghiệm của Nam Tư, từ năm 1943 xa xôi đã vạch ra chương trình phát triển nền văn hóa của nước Việt Nam độc lập, về chính sách ngôn ngữ chưa toàn diện sâu sắc đã dẫn đến sự thiếu hụt như thế nào ở một quốc gia đa sắc tộc như Việt Nam, về những mâu thuẫn trên cơ sở ngôn ngữ, về những bản dịch đầu tiên của văn học Nga và Xô-viết được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Và bản báo cáo chi tiết của Viện sĩ Thông tấn Sergei Ryazantsev, Giám đốc Viện Nghiên cứu Nhân khẩu học thuộc Viện HLKH Nga, đã mô tả bức tranh nhân khẩu học của Việt Nam hiện đại và đưa ra những cảnh báo đáng chú ý về sự phát triển trên bình diện nhân khẩu học, trong đó có giảm tỷ lệ sinh, lão hoá dân số, gia tăng chênh lệch vùng miền và tập hợp cư dân quá đông ở các đô thị, cũng như nhu cầu chuyển đổi từ mô hình di dân lao động sang mô hình thu hút chuyên gia với trình độ chuyên môn cao.

Các báo cáo được trình bày tại hội thảo bàn tròn Matxcơva tháng 5 năm 2021 sắp tới sẽ được tập hợp trong chuyên khảo «Đảng Cộng sản Việt Nam: 90 năm thử thách và thắng lợi». Nghĩa là chúng ta sẽ có thêm những nghiên cứu nghiêm túc và sâu sắc về chặng đường gian khổ và vẻ vang mà đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta đã trải qua và hiện đang đi tới.