09:46 04 Tháng Sáu 2020
Thế giới
URL rút ngắn
Theo
21
Theo dõi Sputnik trên

“Việc Philippines chính thức hủy Thỏa thuận về Các lực lượng thăm viếng Quốc gia có thể cũng chỉ đơn giản là một kiểu “làm mình làm mẩy” của Manila đối với Washington để buộc người Mỹ phải quan tâm nhiều hơn đến Biển Đông”, - Nhà phân tích Nguyễn Minh Tâm nói với Sputnik.

Ngày 11.2,  Philippines chính thức hủy Thỏa thuận về Các lực lượng thăm viếng Quốc gia (VFA) với Hoa Kỳ. Giới chuyên gia cho rằng việc Philippines từ bỏ VFA sẽ khiến Trung Quốc có cơ hội mở rộng quân sự hóa Biển Đông và Philippines đang đùa với lửa ở Biển Đông.

Thực chất động thái trên của Philippines là gì?

Sputnik đã có cuộc trao đổi với nhà phân tích các vấn đề chính trị và quân sự quốc tế nổi tiếng của Việt Nam, ông Nguyễn Minh Tâm.

Sputnik: Chào ông Nguyễn Minh Tâm! Thưa ông, bản chất của Thỏa thuận về Các lực lượng thăm viếng Quốc gia (VFA) là gì?

Nhà phân tích Nguyễn Minh Tâm

 “Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng Quốc gia (VFA)” được Philippines ký với Mỹ năm 1998 là hệ quả tất yếu của việc Philippines đã không thành công trong việc bảo vệ “Đá Vành Khăn”. Thực thế địa lý do Philippines chiếm đóng nằm trong quần đảo Trường Sa mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền đã bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép hồi tháng 2-1995, bắt giữ và trục xuất các ngư dân Philippines vốn đang trú ngụ tại đây. Sau một loạt các hành động trả đũa lẫn nhau từ năm 1995 đến năm 1997 mà vẫn không thể “đòi lại” Đá Vành Khăn, Philippines đã ký kết VFA với Mỹ, mong muốn sử dụng sự hiện diện của Mỹ để ngăn cản hành động gây hấn, lấn chiếm biển đảo của Trung Quốc.

Ảnh chụp từ vệ tinh một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa trên Biển Đông
Ảnh chụp từ vệ tinh một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa trên Biển Đông

Cho dù VFA bị hủy bỏ thì EDCA (Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng) vẫn còn nguyên giá trị

Sputnik: Giới chuyên gia cho rằng việc Philippines từ bỏ VFA sẽ khiến Trung Quốc có cơ hội mở rộng quân sự hóa Biển Đông, thậm chí còn cho rằng Philippines “đang đùa với lửa” ở Biển Đông. Thực chất thì VFA có thực sự có tầm quan trọng như vậy không?  Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Nhà phân tích Nguyễn Minh Tâm

Nếu ở vào thời điểm những năm 1995-2010 thì Thỏa thuận VFA giữa Mỹ và Philippines trên cơ sở Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines (MTA) đúng là có tác dụng làm Trung Quốc phải “nghĩ lại”, mỗi khi có hành động gây hấn ở Biển Đông. Nhưng ở thời điểm từ năm 2010 đến nay thì “lá bùa USA” hầu như mất tác dụng. Trung Quốc đã không sử dụng lực lượng quân sự để”gây hấn”, “lấn chiếm” ở Biển Đông mà chuyển sang sử dụng các biện pháp “dân sự” để thực thi mưu đồ độc chiếm Biển Đông (dĩ nhiên là có lực lượng quân sự ở tuyến sau làm áp lực). Đó là các biện pháp như khoan thăm dò trái phép (vụ HD-981 năm 2014), khảo sát đo đạc trái phép (vụ tàu Haiyang Dizhi 8 năm 2019), là các lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, là việc dùng các tàu Hải giám, Hải cảnh xua đuổi các tàu cá của Philippines tại bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham), là việc bồi đắp trái phép các đảo chìm thành đảo nổi và thiết lập các căn cứ quân sự ở đó,v.v…

Trước thủ đoạn sử dụng các biện pháp “quân sự đội lốt dân sự” để thực hiện âm mưu chiếm trọn Biển Đông của Trung Quốc thì Mỹ dù có nhiều tàu to, súng lớn, máy bay hiện đại và nhiều loại vũ khí tấn công khác đã bất lực, không thể ngăn chặn được những hành động lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Ngay cả khi Philippines sử dụng biện pháp phi quân sự mạnh nhất là pháp lý quốc tế cũng không thể đòi lại được các thực thể địa lý đã rơi vào tay Trung Quốc. Những cuộc tập trận thường niên giữa Mỹ và Philippines cũng như các chuyến tuần tra của các máy bay ném bom chiến lược và các hạm đội tàu sân bay của Mỹ đều không hề có tác dụng trong việc ngăn chặn mưu đồ bành trướng của Trung Quốc.

Thực tế cho thấy qua 22 năm thực thi, Thỏa thuận VFA không có tác dụng ngăn chặn các hàng động lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Tuy nhiên, Hiệp ước MTA-1951 giữa Mỹ và Philippines cho đến nay vẫn đang có hiệu lực. Điểm yếu của MTA-1951 là nó chỉ cho phép người Mỹ triển khai lực lượng trong tình huống Philippines bị tấn công quân sự hoặc trong tình huống có công dân Mỹ bị phía Trung Quốc bắt giữ hoặc sát hại tại khu vực Biển Đông. Nếu như tình huống thứ nhất chỉ có thể xảy ra với xác suất thấp thì đối với tình huống thứ hai, với lý do để bảo vệ công dân của mình, Mỹ vẫn có thể triển khai được lực lượng quân sự mà không cần có một thỏa thuận liên minh quân sự đối với bất cứ một quốc gia nào ở ven Biển Đông.

Vì vậy, nếu cho rằng việc Philippines từ bỏ VFA, khước từ sự hiện diện quân sự của quân đội Mỹ sẽ khiến Trung Quốc có cơ hội mở rộng quân sự hóa Biển Đông thì đó là một suy nghĩ sai lầm vì những tư duy kiểu đó chỉ xuất phát từ tư duy độc tôn biện pháp quân sự mà không thấy được tác dụng của các biên pháp phi quân sự. Dù  có hay không có VFA, Trung Quốc vẫn cứ bằng mọi biện pháp phi quân sự để thực thi dã tâm của mình, nhất là khi họ đã có một tiềm lực quân sự-quốc phòng mạnh hơn nhiều lần so với thời điểm năm 1998 để làm áp lực. Trước tình hình ấy, các quốc gia ven Biển Đông không còn cách nào khác là phải tăng cường năng lực phòng thủ của mình, sử dung chính sách ngoại giao khôn khéo bằng cách liên kết với nhiều quốc gia có chung lợi ích ở Biển Đông để vừa ngăn chặn âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, vừa duy trì hòa bình, ổn định, nhằm phát triển kinh tế.

Bên cạnh đó, động thái này có thể cũng chỉ đơn giản là một kiểu “làm mình làm mẩy” của Manila đối với Washington để buộc người Mỹ phải quan tâm nhiều hơn đến địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng này.

Hơn nữa, một điều rất đáng chú ý là vào năm 2014, Philippines còn ký với Mỹ một hiệp định quốc phòng song phương. Đó là Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA), cho phép gia hạn thời gian lưu trú của quân đội Mỹ và cấp phép các hoạt động xây dựng, bảo dưỡng hạ tầng quốc phòng, vũ khí tại 5 khu trại quân sự cụ thể của Philippines. Cho dù VFA bị hủy bỏ thì EDCA vẫn còn nguyên giá trị. Qua đây có thể thấy việc ông Rodrigo Duterte hủy bỏ Thỏa thuận VFA sẽ không hề ảnh hưởng đến khả năng phòng thủ của Philippines như nhiều người lo ngại vì nó chỉ ảnh hưởng đến các chuyến thăm viếng quân sự và các cuộc tập trận chung mà thôi.

Vì sao Philippines bày tỏ thái độ phản kháng ra mặt đối với Washington tại thời điểm này?

Sputnik: Theo ông thì vì sao Philippines lại có động thái như vậy đúng vào thời điểm này?

Nhà phân tích Nguyễn Minh Tâm

Thỏa thuận VFA được ký kết giữa Washington và Manila hồi năm 1998 tạo cơ sở pháp lý cho sự hiện diện của hàng nghìn lính Mỹ luân chuyển đóng quân tại Philippines, nhằm phục vụ các cuộc tập trận và hoạt động hỗ trợ nhân đạo. Căn cứ pháp lý của thỏa thuận này là Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ - Philippines (MTD) được ký kết năm 1951, Đây là một “cái bình mới” đựng “rượu cũ”. Với thỏa thuận này, Mỹ có thể triển khai lực lượng quân sự tới Philippines nói riêng và Biển Đông nói chung một khi có tình huống xung đột quân sự trong khu vực.

Phát biểu của Chánh văn phòng Phủ tổng thống Philippnes Salvador Panelo cho thấy hai căn nguyên khiến cho quan hệ giữa Manila và Washington gặp trục trặc.

Căn nguyên thứ nhất của sự rạn nứt ngày càng tăng giữa Philippines với Mỹ là ở việc Mỹ thường có các động thái can thiệp vào công việc nội bộ của đồng minh. Những ví dụ dễ thấy nhất là việc Mỹ cáo buộc Philippines vi phạm nhân quyền trong việc trừng trị tội phạm ma túy, là việc một số nghị sĩ Mỹ yêu cầu Manila thả thượng nghị sĩ đối lập Leila De Lima, là việc Mỹ yêu cầu Philippines không được gia tăng quan hệ kinh tế với Trung Quốc, không được gia tăng quan hệ quân sự quốc phòng với Liên bang Nga. Trong khi đó thì Mỹ đã không hề có một hành động nào được coi là có hiệu quả để bảo vệ Philippines chống lại sức ép từ phía Trung Quốc.

Căn nguyên thứ hai là mối bất hòa trong nội bộ Philippines về vấn đề Biển Đông. Cũng hồi đầu tháng 2-2019, trong khi Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Teodoro Locsin và thẩm phán Tòa án Tối cao Antonio Carpio phản đối trung tâm cứu hộ do Trung Quốc xây dựng ở Đá Chữ Thập (thuộc chủ quyền Việt Nam) thì Tổng thống Rodrigo Duterte lại nói rằng Philippines nên cảm thấy “biết ơn” Trung Quốc vì trung tâm cứu hộ có thể giúp đỡ tất cả mọi người

Nói chung, chính giới Philippines chia làm hai phe. Một phe chủ trương dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền của Philippines. Phe thứ hai do tổng thống Rodrigo Duterte cầm đầu thì cho rằng Philippines cần tự đứng trên đôi chân của mình để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển đảo của mình.

Trong thời điểm hiện nay, khi Trung Quốc đang chuyển sang các biện pháp “tằm ăn lá dâu” để hiện thực hóa cái gọi là “đường lưỡi bò” nhằm độc chiếm Biển Đông thì Philippines cảm thấy rằng họ phải thay đổi sách lược. Bằng chứng là Bộ trưởng Quốc phòng Delfin Lorenzana vốn trước đây chống lại sức ép từ Tổng thống Rodrigo Duterte trong việc giảm quan hệ quân sự lâu năm với Washington thì nay đã ủng hộ lập trường của ông Duterte.

Từ đó có thể thấy, Philippines chỉ có thể bày tỏ thái độ phản kháng ra mặt đối với Washington tại thời điểm này, khi mà nước Mỹ vừa ra khỏi cuộc khủng hoảng chính trị “luận tội tổng thống”, những thế lực vốn “căm ghét” Duterte thuộc đảng Dân Chủ Mỹ đã thất bại trong vụ này. Và cũng vào lúc này, Trung Quốc còn đang vướng vào “đại dịch CoViD-2019” cũng như đang phải khắc phục hậu quả các cuộc biểu tình ở Hồng Công chính là thời điểm Philippines chọn để “đo phản ứng” của dư luận Mỹ và thế giới cũng như phản ứng từ phía Trung Quốc.

Cú “thoát pressing” mạo hiểm của ông Rodrigo Duterte

Sputnik: Chúng ta thấy rõ rằng, một mặt, Philippines đang tìm kiếm lợi ích kinh tế từ sự hợp tác với Trung Quốc, nhưng mặt khác, không thể từ bỏ một ô phòng thủ của Mỹ. Thực tế cũng cho thấy, quân đội Philippines chỉ có thể bảo vệ chống lại các mối đe dọa nội bộ chứ không phải mối đe dọa từ bên ngoài. Một mình Philippines không thể đứng vững được trong bất kỳ cuộc xung đột quân sự tiềm năng nào trong khu vực. Hoa Kỳ vẫn là đối tác và đồng minh của họ. Vậy theo ông thì động thái của  Philippines nói lên điều gì?

Nhà phân tích Nguyễn Minh Tâm

© AP Photo / Malacanang Presidential Photographers Division / Karl Norman Alonzo
Xét về nguyên cớ thì hành động chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng Quốc gia (VFA) của Philippines đối với Mỹ là để trả đũa việc Mỹ hủy bỏ thị thực của thượng nghị sĩ Philippines Ronaldo Dela Rosa và từ chối cho ông này nhập cảnh. Vị thượng nghị sĩ Philippines này vốn là Tư lệnh cảnh sát quốc gia Philippines và là người đã ra lệnh bắn bỏ tất cả các tội phạm về ma túy ở Philippines mà không cần qua xét xử. Chính giới Mỹ, đặc biệt là những người của đảng Dân chủ Mỹ, coi đây là một sự vi phạm nhân quyền rất nghiêm trọng.

Thêm vào đó, thượng nghị sĩ Ronaldo Dela Rosa còn tuyên bố rằng “Liên minh quân sự với Hoa Kỳ không thể bảo đảm an ninh cho Philippines”. Đây là “giọt nước tràn ly” khiến Washington “nổi điên” với ông này. Tuy nhiên, thượng nghị sĩ Ronaldo Dela Rosa không phải là người đầu tiên và duy nhất trong số các chính khách ở Philippines chỉ trích chính sách hai mặt của Mỹ đối với các đồng minh. Chính tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã từng có “lời qua tiếng lại” với cựu tổng thống Mỹ Barack Obama bằng những ngôn từ không lịch sự cho lắm. Và vào tháng 2-2019, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana đã đột ngột quay ngoắt lập trường 180 độ khi ông này bất ngờ kêu gọi xét lại Hiệp ước Phòng thủ chung (MDT) ký với Mỹ năm 1951. Thậm chí ông Delfin Lorenzana còn đe dọa rằng Philippines sẽ hủy bỏ MTD-1951 vì theo thỏa thuận đính kèm, hiệp ước này cho phép một bên đơn phương vô hiệu hóa hiệp định này trong vòng 1 năm kể từ khi thông báo.

Philippine police chief Director-General Ronald Dela Rosa talks about the improvised explosive device found by a street sweeper near the US embassy during a press conference at the police headquarters in Manila
© AFP 2020 / Ted ALJIBE
Cựu cảnh sát trưởng Philippines Ronald dela Rosa

Gần đây, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte còn cấm hai thượng nghị sĩ Mỹ Richard Durbin và Patrick Leahy nhập cảnh vì họ đề xuất Quốc hội Mỹ ban hành một nghị quyết phản đối việc truy tố thượng nghị sĩ đối lập Philippines Leila de Lima. Bà này đã đơn phương mở cuộc điều tra việc hàng nghìn người bị giết trong các chiến dịch chống ma túy của chính quyền ông Duterte nhưng sau đó lại bị Tòa án Philippines truy tố chính vì tội buôn ma túy đầu hồi năm 2017. Ông Duterte còn cấm các quan chức nội các Philippines tới Mỹ và từ chối lời mời của Tổng thống Donald Trump đến cuộc gặp đặc biệt giữa tổng thống Mỹ với lãnh đạo các nước ASEAN vào tháng 3-2020 tại Las Vegas (Mỹ).

Nhưng đó chỉ là những chuyện “bếp núc” trong quan hệ quốc tế. Còn xét về khía cạnh chiến lược thì cho dù tổng thống Philippines là Rodrigo Duterte hay là bất kỳ ai cũng không thể phá bỏ quan hệ Mỹ-Philippines.

Philippines quả là đang đứng giữa hai thế lực kinh tế-quân sự hàng đầu trên thế giới này và chịu nhiều sức ép, kể cả sức ép từ bên ngoài lẫn trong nội bộ. Tuy nhiên, có thể xem hành động vừa rồi là một cú “thoát pressing” mạo hiểm của ông Rodrigo Duterte. Do nội bộ chính giới Philippines đang lục đục giữa hai phe “thân Mỹ” và “thoát Mỹ” nên bằng hành động quyết liệt này, tổng thống Philippines đã một mặt chứng tỏ tinh thần dân tộc tự quyết của Philippines, mặt khác gửi một lời cảnh báo tới chính giới Mỹ trong khi chứng tỏ với phía Trung Quốc rằng Philippines thực tâm muốn hợp tác làm ăn về kinh tế biển. Còn đối với Thỏa thuận viếng thăm quân sự (VFA) giữa Mỹ và Philippines thì việc thực thi nó trong hơn 20 năm qua đã chứng tỏ nó không hề có tác dụng bảo vệ Philippimes trước người Trung Quốc.

Vì vậy, không loại trừ trường hợp là sau vụ “xô bát xô đũa” này, giữa Manila và Washington sẽ có thể có một thỏa thuận quân sự mới chặt chẽ hơn, rộng rãi hơn, có hiệu quả hơn để giúp bảo vệ Philippines hữu hiệu hơn; đồng thời, buộc người Mỹ phải tôn trọng Philippines hơn, phải coi Philippines là một đồng minh thật sự chứ không phải là một “kẻ được bảo trợ” dưới “cái ô hạt nhân” của Mỹ.

Sputnik: Cảm ơn ông Nguyễn Minh Tâm đã dành thời gian cho Sputnik.