08:30 05 Tháng Bảy 2020
Thế giới
URL rút ngắn
50
Theo dõi Sputnik trên

Những kẻ phá hoại vũ trang đến tận răng, chiến dịch đổ bộ chớp nhoáng và kế hoạch bắt cóc tổng thống, chính quyền Venezuela cáo buộc Washington có liên quan trong nỗ lực buộc ông Nicholas Maduro rời khỏi cương vị nguyên thủ quốc gia.

Caracas tin rằng cuộc xâm lược được tổ chức bởi thủ lĩnh phe đối lập Juan Guaido, người được lính đánh thuê Mỹ hỗ trợ. Chiến dịch thất bại, nhưng Nhà Trắng vốn có nhiều kinh nghiệm trong việc lật đổ các chế độ ở Mỹ Latinh, và không chắc sẽ chấm dứt việc   này. Về cách thức quen thuộc mà Hoa Kỳ áp dụng trong khu vực, theo tài liệu của Sputnik.

Tấn công từ biển

Những kẻ phá hoại dùng tàu cao tốc xâm nhập Venezuela bằng đường biển. Có khoảng 40 người trong nhóm. Họ lên kế hoạch đổ bộ vào thành phố La Guaira, cách thủ đô Venezuela 30 km, chiếm giữ sân bay thủ đô cho đến khi Nicolas Maduro được đưa tới Hoa Kỳ. Tuy nhiên, quân đội đã đẩy lùi cuộc tấn công và bắt hơn 30 người vi phạm biên giới. Tám tay súng bị bắn chết.

Hầu hết những người bị bắt giữ là công dân Colombia, nhưng có 2 người Mỹ trong số họ - nhân viên công ty quân sự tư nhân Silvercorp. Điều này đã được  người đứng đầu PMC (một công ty quân sự tư nhân), cựu quân nhân đặc nhiệm Hoa Kỳ Jordan Goodro, xác nhận. Ông thừa nhận mục tiêu chính của cuộc xâm lược là thực hiện đảo chính ở Venezuela.

Tất cả những kẻ tấn công hiện đang ở phía sau song sắt. Ngoài ra, chính quyền Venezuela đã ban hành khoảng hai chục lệnh bắt giữ đối với những người tình nghi khác trong âm mưu thất bại. Người đứng đầu Silvercorp PMC Jordan Goodro, nghị sĩ đối lập Sergio Vergara  thuộc phe Juan Guaido  và cố vấn chính trị từ Miami Juan Jose Rendon được đưa vào danh sách truy nã quốc tế.

Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro trình bày tài liệu bị thu giữ sau âm mưu  xâm lược
© REUTERS / Miraflores Palace
Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro trình bày tài liệu bị thu giữ sau âm mưu xâm lược

Chính trị gia đối lập nổi tiếng Juan Guaido có liên quan đến vụ việc, tờ Washington Post đưa tin. Theo tờ báo, vào tháng 10, phe đối lập Venezuela đã ký hợp đồng trị giá 213 triệu USD với PMC Silvercorp. Người Mỹ sẽ tổ chức  một cuộc xâm lược đất nước và lật đổ Maduro. Kể từ tháng 1 năm 2019, chính quyền Hoa Kỳ đã không công nhận ông là tổng thống hợp pháp của đất nước và coi Juan Guaido là người đứng đầu lâm thời của đất nước.

Cựu tổng thống Honduras, ông Manuel Zelaya, nhớ lại cuộc đảo chính ở đất nước ông năm 2009 .

«Các dịch vụ bí mật của Mỹ can thiệp trực tiếp, củng cố vị thế của họ thông qua các công ty quốc tế khác nhau, giành quyền kiểm soát nhà nước và các nguồn lực, ông Zelaya nói trong cuộc phỏng vấn với Sputnik. - Hôm nay ở Venezuela cũng vậy. Không có gì thay đổi. Đây là sức mạnh bá quyền của chủ nghĩa tư bản và các mệnh lệnh, mà Hoa Kỳ không còn có thể coi là sự chính đáng. Họ hành động từ quan điểm độc đoán, quyền lực, đe dọa chiến tranh».

"Sân sau" của Hoa Kỳ

Trong cuộc xâm lược thất bại ở Venezuela, có thể thấy rõ kịch bản các hoạt động quân sự của Mỹ diễn ra trước đây ở châu Mỹ Latinh, vốn luôn là trọng tâm của Washington.

Theo ông Luis Rodríguez Gamboa - đại biểu Quốc hội thuộc Đảng Xã hội Thống nhất Venezuela, Hoa Kỳ trong lịch sử luôn coi Mỹ Latinh là sân sau của mình, nơi mà toàn bộ tài nguyên thiên nhiên thuộc về Washington.

"Hành động xâm lược của người Mỹ là điều phổ biến trong thế kỷ trước, - ông Gamboa giải thích với phóng viên Sputnik,- Chỉ cần nhắc lại Cộng hòa Dominican, Cuba hoặc Nicaragua, việc lật đổ các tổng thống Paraguay và Honduras. Nếu như tại một quốc gia, những lực lượng chính trị không hợp ý Nhà Trắng lên nắm quyền thì không nên nghi ngờ việc "hàng xóm phía bắc» sẽ can thiệp. Ngày nay, ngoài áp lực quân sự, còn thêm vào đó hành động của các lực lượng chính trị trong nước do người Mỹ kiểm soát".

Nghị sỹ  nhấn mạnh khu vực này thu hút Washington chủ yếu do tài nguyên thiên nhiên phong phú. Trong lòng đất các quốc gia Mỹ Latinh và Caribê chứa khoảng 14% khoáng chất đất hiếm. Ví dụ như Bolivia dẫn đầu thế giới về trữ lượng lithium.

«Và trong chính bối cảnh này, họ thực hiện những nỗ lực lật đổ Tổng thống Evo Morales, - ông Gamboa nói một cách tin tưởng . - Điều này đã xảy ra ở Brazil hoặc Ecuador. Lãnh đạo các nước này tìm kiếm sự độc lập khỏi Washington, thực thi một chính sách quốc tế tự chủ. Ngoài ra, chúng ta không được quên về tầm quan trọng chiến lược của châu Mỹ Latinh, không chỉ đối với ảnh hưởng toàn cầu, mà còn về mặt an ninh quốc gia của Mỹ. Do đó họ rất chú ý đến khu vực, và thực hiện một chính sách cứng rắn hạn chế mọi hiện tượng nguy hiểm tiềm tàng, ví dụ như tăng cường quan hệ với những cường quốc khác».
Người ủng hộ cựu Tổng thống Bolivia Evo Morales đứng cạnh những người lính bảo vệ con đường đến Nhà máy nhiên liệu Senkata ở El Alto
© AP Photo / Natacha Pisarenko
Người ủng hộ cựu Tổng thống Bolivia Evo Morales đứng cạnh những người lính bảo vệ con đường đến Nhà máy nhiên liệu Senkata ở El Alto

Phản chiếu sức mạnh

Tháng 12 năm 1989, người Mỹ đã xâm chiếm Panama - để bảo vệ công dân Mỹ và khôi phục nền dân chủ. Đó là mục đích chính thức của chiến dịch quân sự. Trên thực tế, tất nhiên là việc duy trì quyền kiểm soát động mạch giao thông đường biển quan trọng mang tính chiến lược - kênh đào Panama.

Cần nhắc lại nhà nước có chủ quyền Panama được thành lập với sự tham gia của Hoa Kỳ trước khi khai trương kênh đào. Năm 1903, phe ly khai Colombia, với sự hỗ trợ của người Mỹ, tách khỏi Colombia và tuyên bố độc lập. Washington ngay lập tức ký kết thỏa thuận với chính phủ quốc gia mới, coi kênh đào Panama và khu vực xung quanh là lãnh thổ Hoa Kỳ hải ngoại.  Ngoài ra, người Mỹ tự cho mình quyền gửi quân đội đến để "đảm bảo luật pháp".

Đầu những năm 1980, Panama do tướng Manuel Noriega lãnh đạo, người từng làm việc cho CIA. Tuy nhiên, sau khi nắm quyền lực, ông ta cố gắng ngồi trên hai chiếc ghế. Hợp tác với Hoa Kỳ, cung cấp thông tin tình báo, cho phép lập các trạm theo dõi, nghe trộm ở Panama, đưa ra các cải cách theo hướng của Washington. Mặt khác, vì mức sống người dân giảm mạnh (do theo các khuyến nghị của Quỹ Tiền tệ Quốc tế), ông cố gắng thực hiện một chính sách đối nội và đối ngoại độc lập.

Washington hoàn toàn không thích điều đó. Panama bị tước bỏ sự hỗ trợ tài chính và quân sự. Phát động một cuộc chiến tranh thông tin chống lại Noriega: họ cáo buộc ông ta buôn bán ma túy và yêu cầu rời khỏi đất nước.

Cuối cùng, khoảng 26 nghìn binh sĩ với xe tăng và pháo binh đã tiến vào Panama. Máy bay tấn công các thành phố lớn, lính dù đổ bộ xuống sân bay, chiếm giữ đài phát thanh và truyền hình. Trong một tuần, đất nước bị chiếm đóng hoàn toàn. Noriega bị loại khỏi quyền lực và kết án ba mươi năm tù. Người trung thành với Nhà Trắng Guillermo Endara nhận chức vụ Tổng thống Panama tại một căn cứ quân sự Mỹ.

Chiến dịch  “Flash of  Fury”  ở Grenada
Chiến dịch “Flash of Fury” ở Grenada

Một ví dụ nổi bật khác là Chiến dịch Flash of Fury ở Grenada. Khi đó, người Mỹ xâm chiếm đất nước này với lý do loại bỏ hậu quả của cuộc đảo chính vũ trang. Năm 1983, Grenada hướng đến mối quan hệ hợp tác với Liên Xô và Cuba, kể cả trong lĩnh vực quân sự. Washington ngay lập tức bắt đầu nói về sự lây lan của "virus chủ nghĩa Marxism".

Tổng thống Maurice Bishop quyết định làm dịu tình hình, đàm phán với người Mỹ, dẫn đến sự chia rẽ trong giới cầm quyền. Người đứng đầu nhà nước bị bắt giữ và bắn chết sau đó cùng với các cộng sự thân cận nhất của mình. Và Washington gửi quân tới Grenada. Cuộc bầu cử quốc hội nhanh chóng được tổ chức và đảng chính trị thân Hoa Kỳ do Herbert Blaze lãnh đạo lên nắm quyền.

Lính Mỹ khám xét liên lạc viên trong chiến dịch “Just cause” ở Panama, 1989
© AFP 2020 / Bob Pearson
Lính Mỹ khám xét liên lạc viên trong chiến dịch “Just cause” ở Panama, 1989
Đội quân giải phóng

Đầu những năm 1950, Jacobo Arbens giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống ở Guatemala. Ông thực hiện các chính sách chống Mỹ, cố gắng làm suy yếu ảnh hưởng và hạn chế quyền lực của các công ty nước ngoài. Washington coi ông là thân Liên Xô - Arbens từ chối gửi lính sang Triều Tiên để giúp Hoa Kỳ, hợp pháp hóa hoạt động của Đảng Cộng sản.

Các biện pháp trừng phạt kinh tế được đưa ra đối với Guatemala, và CIA được giao nhiệm vụ đối phó với vị tổng thống đáng ghét. Ở nước láng giềng Honduras, CIA tổ chức một trại lính đánh thuê - gọi là "Quân giải phóng". Các giảng viên và quân nhân Hoa Kỳ huấn luyện các chiến binh, CIA đảm bảo việc chuyển giao vũ khí và thiết bị quân sự qua biên giới.

Tháng 6 năm 1954, cuộc xâm lược bắt đầu. Lính đánh thuê vũ trang đổ bộ từ biển, từ trên không. Một cuộc nổi dậy nổ ra - được cho là chống lại chế độ độc tài của tổng thống đương nhiệm. Trong một khoảng thời gian, lực lượng chính phủ đã kìm hãm được phiến quân, ngay cả khi bị máy bay Mỹ tấn công. Tuy nhiên, một số sĩ quan cao cấp bị CIA mua chuộc đưa ra tối hậu thư cho Arbenz và  buộc ông phải từ chức, dưới sự đe dọa trả thù. Chính quyền mới do đại tá thân Mỹ Carlos Armas nắm giữ.

Những cuộc đàn áp hàng loạt diễn ra trong nước - hàng ngàn người có liên hệ với cộng sản bị tống vào tù. Nhiều người bị bắn chết. Tất cả các cải cách kinh tế xã hội của Arbenz chấm dứt. Kết quả là cuộc nội chiến kéo dài 36 năm và cướp đi hơn hai trăm ngàn mạng sống.

Chuyên gia trong lĩnh vực địa chính trị và năng lượng Carlos Andrés Ortiz lưu ý ở châu Mỹ Latinh có các cấu trúc xã hội sẵn sàng hỗ trợ bất kỳ hành động nào chống lại các lực lượng chính trị theo xu hướng quốc gia.

“Họ hài lòng với mô hình phong kiến, trong đó quyền lực tập trung trong tay một nhóm người rất hẹp, kiểm soát mọi nguồn lực, theo ông Andres, - Những tầng lớp này được hình thành do quá khứ thuộc địa của châu Mỹ Latinh, và một thế giới quan như vậy rất phổ biến trong quân đội, đặc biệt là ở Argentina".

Như vậy người Mỹ luôn có những người để nương tựa khi chuẩn bị các cuộc đảo chính quân sự tại các quốc gia khu vực này.

Những người ủng hộ Castillo Armas giữ tù nhân trong cuộc đảo chính ở Guatemala, 1954
© AFP 2020 / Cirma
Những người ủng hộ Castillo Armas giữ tù nhân trong cuộc đảo chính ở Guatemala, 1954