11:58 17 Tháng Chín 2021
Thế giới
URL rút ngắn
30
Theo dõi Sputnik trên

Trong cuộc đối đầu thời Chiến tranh Lạnh, hai siêu cường - Mỹ và Liên Xô - đã thu thập thông tin tình báo bằng mọi cách, tiến hành các hoạt động tình báo bí mật. Sau đây là bài của Sputnik về một trong những chiến dịch tình báo vừa thành công vừa thất bại.

Tiếp cận thông tin bí mật của Liên Xô

Vào đầu những năm 1970, Hải quân, Cục Tình báo Trung ương (CIA) và Cục An ninh Quốc gia (NSA) Mỹ đã quyết định tiến hành một chiến dịch tình báo chưa từng có gần bờ biển Liên Xô - ở vùng biển Okhotsk, phía Bắc Thái Bình Dương. Chiến dịch mang mật danh “Ivy Bells” (“Hoa thường xuân”).

Máy bay ném bom chiến lược Boeing B-52 Stratofortress của Không quân Mỹ đến căn cứ không quân Al Udeid, Qatar.
© AP Photo / Staff Sgt. Corey Hook / U.S. Air Force via AP

Liên Xô coi Biển Okhotsk là vùng nước nội địa của mình. Dưới đáy biển Okhotsk đã có đường dây liên lạc bằng cáp giữa căn cứ tàu ngầm hạt nhân trên bán đảo Kamchatka và Sở chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương ở Vladivostok. Trên đáy biển đã đặt các cảm biến thủy âm để phát hiện tàu ngầm lạ, các tàu nổi của Hạm đội Thái Bình Dương thường xuyên tuần tra vùng biển này.

CIA và Tình báo Hải quân Hoa Kỳ biết được sự tồn tại của đường dây liên lạc bằng cáp. Có lẽ, các vệ tinh do thám của Mỹ đã ghi lại các hoạt động lắp đặt dây cáp. Có lẽ, một trong những tàu ngầm Mỹ phát hiện dây cáp vì các cuộc đàm thoại qua đường dây liên lạc phát ra bức xạ điện từ. (Khi đó, các tàu ngầm Mỹ đã vào Biển Okhotsk, và các tàu ngầm Liên Xô đã tiếp cận bờ biển Đại Tây Dương của Hoa Kỳ).

Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo: cài đặt thiết bị nghe trộm cáp liên lạc dưới biển để nắm bắt các thông tin đặc biệt quan trọng của Liên Xô. Để thực hiện nhiệm vụ này họ đã sử dụng tàu ngầm Halibut ("Cá chim") có ký hiệu SSGN-587. Halibut được chuyển đổi thành tàu ngầm diesel-điện chạy bằng năng lượng hạt nhân, được trang bị các thiết bị hải dương học hiện đại nhất để thực hiện nghiên cứu vùng biển sâu. Trên tàu Halibut còn có một tàu ngầm mini với máy ảnh và video có khả năng hoạt động ở vùng nước rất lạnh và trong những cơn bão dữ dội, có buồng giải nén cho các thợ lặn (đặc nhiệm SEAL "hải cẩu"), cũng như thiết bị nghe trộm. Ngoài ra, hai tàu ngầm Mỹ đã hộ tống Halibut. Nhiệm vụ của chúng là đánh lạc hướng các tàu chống ngầm của Liên Xô.

USS Halibut (SSGN-587)
USS Halibut (SSGN-587)

Vào mùa thu năm 1971, tàu ngầm mini và các thợ lặn đã tìm được cáp thông tin liên lạc dưới nước ở độ sâu 65 m. Các thợ lặn đã lắp đặt thiết bị nghe trộm lên dây cáp. Trên thiết bị dài khoảng 1m với pin lithium có máy ghi âm có thể thường xuyên ghi lại mọi thông tin các cuộc đàm thoại  mà không làm hỏng cáp. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tàu ngầm Halibut trở về căn cứ tại Trân Châu Cảng. Và trên đường về, tàu ngầm đã nhặt được mảnh vỡ của tên lửa Liên Xô "Bazalt" từ đáy biển. Đây là một "hoạt động bao che" dành cho thủy thủ đoàn. Không phải tất cả các thành viên của đội Halibut đều biết về mục đích thực sự của chiến dịch.

Một năm sau, Halibut quay trở lại bờ biển Liên Xô để thay thế thiết bị nghe trộm cũ bằng một thiết bị trinh sát tiên tiến hơn được đặt tên là "Cocoon" có khả năng nghe trộm tới 60 kênh và ghi âm trong suốt 3.000 giờ với chế độ chọn lọc (ghi âm được bật vào thời điểm truyền tín hiệu). Tất nhiên, bản thân dây cáp không bị hư hỏng (phía Liên Xô có thể nhận ra ngay), thông tin (như các chuyên gia Liên Xô phát hiện sau đó) đã được thu bằng ăng ten cảm ứng có bộ khuếch đại. Với thiệt bị hiện đại hơn "Cocoon" các tàu ngầm Mỹ ít thường xuyên hơn phải quay lại khu vực cài thiết bị để các thợ lặn thu thập băng từ đã ghi, nhờ đó đã giảm nguy cơ gặp tàu Liên Xô hoặc ít nhất bị giam giữ.

P-500 Bazalt
P-500 Bazalt

Chiến dịch bị bại lộ

Trong gần 10 năm, người Mỹ đã nghe trộm các cuộc điện đàm của Hải quân Liên Xô. Tuy nhiên, vào đầu những năm 1980, vệ tinh do thám của Mỹ đã ghi lại hoạt động đáng ngờ của các tàu Liên Xô trong khu vực đặt  thiết bị “Cocoon”. Và trong lần “viếng thăm” biển Okhotsk tiếp theo, tàu ngầm Mỹ không chỉ gặp hai tàu ngầm Liên Xô đang chờ họ mà còn không tìm thấy thiết bị nghe trộm. Rõ ràng, Liên Xô đã tìm thấy và trục vớt, đưa lên mặt nước thiết bị trinh sát "Cocoon"của Mỹ. Các tàu ngầm Mỹ khẩn trương rút lui và báo cáo sự việc cho cấp trên. CIA, NSA và Lầu Năm Góc thừa nhận rằng, chiến dịch Ivy Bells cuối cùng bị bại lộ.

Đến nay vẫn chưa biết bằng cách nào các sĩ quan phản gián của Hạm đội Thái Bình Dương đã phát hiện “Cocoon”. Theo một trong những giả thuyết, vào tháng 8 năm 1981, một tàu đánh cá Liên Xô ở vùng biển Okhotsk đã thả neo và làm hỏng dây cáp, cắt đứt liên lạc giữa Kamchatka với Sở chỉ huy. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (1981-1986), Đô đốc Vladimir Sidorov hồi tưởng lại:

“Tôi đã ra chỉ thị gửi một tàu đặt cáp đến khu vực dây cáp bị đứt. Vào ban đêm, tôi đã được thông báo rằng, trong quá trình tìm kiếm chỗ đứt cáp các thợ lặn đã phát hiện một container khổng lồ không rõ mục đích. Phần đuôi của container nóng lên vì một lý do nào đó ... "

Khoe khoang và phản bội

Các chuyên gia Liên Xô lo ngại rằng, container có thể chứa thiết bị “tự sát”. Do đó, ban đầu họ quyết định không nâng container lên, và khẩn cấp báo cáo về phát hiện này cho Matxcơva. Cơ quan An ninh Nhà nước KGB đã vào cuộc. Các thợ lặn được lệnh phải cẩn thận nâng container lên và đưa nó đến căn cứ, trong mọi trường hợp không được mở ra nó. Sau đó "Cocoon" đã được đưa đến Matxcơva và được mở ở đó. Cả mục đích và nguồn gốc của nó đều nhanh chóng được xác lập: bên container có tấm dán "Made in USA"!

Có cả những giả thuyết khác. Theo một giả thuyết, giám đốc CIA dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, Đô đốc Turner được cho là đã vô tình tiết lộ sự tồn tại của “Cocoon”. Theo giả thuyết thứ hai, vào tháng 1 năm 1980, sĩ quan NSA Ronald Pelton bị sa thải khỏi cơ quan vì nghiện ma túy. Trong tình huống khó khăn khi phải kiếm kế sinh nhai, anh ta đã quyết định bán thông tin về chiến dịch Ivy Bells cho Đại sứ quán Liên Xô tại Washington. Thông tin có được đã cho phép Liên Xô giải quyết vấn đề.

An ninh của Liên Xô có bị tổn hại do chiến địch của các cơ quan đặc nhiệm Mỹ?

Tất nhiên, chiến dịch này đã gây phương hại đến an ninh quốc gia, nhưng, không phải với quy mô lớn như Hoa Kỳ dự kiến. Cựu phó giám đốc tình báo thứ nhất của Hạm đội Thái Bình Dương, Chuẩn Đô đốc Anatoly Shtyrov cho biết:

“Đã có một vụ rò rỉ thông tin, nhưng nó không gây ra những ảnh hưởng quá nghiêm trọng... Trên thực tế, tín hiệu đi qua một dây cáp như vậy được mã hóa, và thông tin chỉ có thể được giải mã bằng một khóa đặc biệt. Nếu không có khóa, thì có thể mất cả trăm năm để giải mã. Người Mỹ đã giải mã một số thông tin có mức độ bảo vệ yếu và không phải là bí mật nhà nước. Nhưng, không nhiều hơn. Vì vậy, tiền đóng thuế của người Mỹ chỉ đơn giản là bị ném xuống biển”.

Hiện nay cả các cường quốc lớn và những quốc gia nhỏ đang tiến hành và sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động tình báo quân sự chiến lược, kể cả bằng các phương pháp điện tử. Tuy nhiên, trong nửa thế kỷ qua, khoa học công nghệ đã phát triển mạnh, nên việc sử dụng các phương pháp phức tạp và rủi ro như trong chiến dịch Ivy Bells là không hợp lý.