19:00 03 Tháng Tám 2021
Thế giới
URL rút ngắn
11
Theo dõi Sputnik trên

Các vụ vi phạm biên giới quốc gia, các máy bay gián điệp chụp ảnh hàng nghìn km vuông lãnh thổ Nga và các cơ sở quân sự bí mật - cách đây đúng 65 năm, vào đầu tháng 7 năm 1956, Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đã phê duyệt các chuyến bay do thám của U-2 qua Liên Xô.

Các điệp viên trên không đã cảm thấy thoải mái không ngại bị trừng phạt cho đến khi chiếc máy bay của Francis Powers bị bắn rơi gần Sverdlovsk. Ngày nay, lịch sử có xu hướng lặp lại - sau khi Crưm sáp nhập vào Nga, các máy bay và tàu trinh sát của NATO liên tục tăng cường hoạt động gần biên giới Nga.

Hai mươi bốn chuyến bay trinh sát

Trong những năm 1950, Washington đã không tiếc công sức và nguồn lực để thu thập thông tin về những bí mật quân sự của Matxcơva, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển vũ khí hạt nhân, tìm hiểu về việc thử nghiệm các loại vũ khí mới, xác định vị trí của các cơ sở chiến lược quan trọng.

Hoạt động này gặp những khó khăn bởi vì nhiều cơ sở nằm ở vị trí xa trung tâm trên lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô. Mỹ cần có loại phi cơ bay ở độ cao và nằm ngoài tầm bắn của lực lượng phòng không của đối phương. Máy bay như vậy đã xuất hiện vào năm 1955.

Máy bay cận âm độ cao U-2 nặng chỉ 10 tấn không mang vũ khí tấn công và chỉ được trang bị thiết bị trinh sát. Tốc độ bay khoảng 750 km/giờ, tầm bay 4,5 nghìn km. Nhưng, điều quan trọng nhất: U-2 có thể bay lên độ cao hơn 21 nghìn mét. Tại đó, cả máy bay chiến đấu cũng như tên lửa có sẵn trong quân đội Liên Xô không thể đánh chặn chiếc máy bay.

Máy bay trinh sát tầm cao Lockheed U-2 của Mỹ
Máy bay trinh sát tầm cao Lockheed U-2 của Mỹ

Lầu Năm Góc đã thành lập một đơn vị Không quân bí mật đặc biệt - Biệt đội 10-10. Nó được giám sát bởi CIA. Bộ phận chính của nhóm này đã đóng tại căn cứ không quân Incirlik trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Các máy bay trinh sát có thể cất cánh từ đó mà không bị các đài radar phát hiện.

Những chiếc U-2 đã bay qua các thành phố lớn nhất như Kiev, Leningrad, Minsk, Matxcơva, chụp ảnh các xí nghiệp công nghiệp, nhà máy đóng tàu, nhà máy quốc phòng, cơ sở phòng không, sân bay chiến lược, căn cứ hải quân. Trong 4 năm, thiết bị vô tuyến điện phòng không của Liên Xô đã phát hiện 24 chuyến bay gián điệp.

Vào tháng 5 năm 1960, Liên Xô đã đánh chặn chiếc U-2 đầu tiên và cuối cùng. Phi công Francis Powers đã xâm phạm bất hợp pháp không phận Liên Xô ở nước CH Tajik và bay đến vùng Urals. Một số chiến đấu cơ trực chiến đã cất cánh. Chỉ khi Powers giảm độ cao trên bầu trời Sverdlovsk, chiếc máy bay bị trúng một tên lửa S-75. Phi công Francis Powers đã nhảy dù và bị người dân địa phương bắt giữ. Phi công Mỹ bị kết án 10 năm vì tội gián điệp, nhưng, sau đó Powers được đổi lấy đặc tình bí mật của Liên Xô Rudolf Abel, người đã bị lộ ở Mỹ.

Francis Gary Powers bên chiếc máy bay trinh sát U-2
© AP Photo / ALLIED MUSEUM
Francis Gary Powers bên chiếc máy bay trinh sát U-2

Gián điệp từ vũ trụ

Vụ việc đã thu hút sự chú ý của giới chính trị. Nikita Khrushchev cáo buộc người Mỹ hành động bội ước và yêu cầu Eisenhower xin lỗi. Tổng thống Mỹ đã bày tỏ sự hối hận chân thành của mình. Mối quan hệ giữa hai quốc gia trở nên tồi tệ.

Chương trình U-2 đã bị loại bỏ dần. Hệ thống phòng không của Liên Xô được cải thiện nhanh chóng, các hệ thống đánh chặn mới đã xuất hiện. Các máy bay trinh sát đã mất khả năng bất khả xâm phạm, người Mỹ chuyển sang dùng vệ tinh.

Năm 1956, CIA và Không quân Hoa Kỳ đã phát triển chương trình Corona theo dõi các mục tiêu mặt đất của Liên Xô và Trung Quốc. Trong những năm 1960, người Mỹ đã phóng hơn 140 phương tiện trinh sát với ống kính góc rộng tiêu cự dài lên quỹ đạo.

Tên lửa Atlas V
Tên lửa Atlas V

Các vệ tinh đã bay ở độ cao khoảng một nghìn km. Đáng chú ý là quả vệ tinh đầu tiên đã thu thập được số lượng thông tin tình báo như tất cả các máy bay U-2 gộp lại.

Kể từ giữa những năm 1990, chỉ có các phương tiện trinh sát điện tử hạng nặng Orion được đưa lên quỹ đạo. Tám vệ tinh như vậy hiện đang hoạt động trong không gian, các chi tiết về sứ mệnh của chúng được giữ bí mật. Tổng cộng, Cục Tình báo Không gian Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ có khoảng 50 phương tiện do thám đang hoạt động.

Orion và Poseidon

Tuy nhiên, Hoa Kỳ và NATO không từ bỏ các máy bay do thám. Mặc dù hiện nay các máy bay trinh sát không còn được sử dụng với quy mô lớn như trước đây, nhưng chúng vẫn thu thập phần lớn dữ liệu về hệ thống phòng thủ của Nga.

Ví dụ, những "vị khách" thường xuyên nhất ở ngoài khơi Crưm là các máy bay tuần tra P-3 Orion đã được đưa vào biên chế vào những năm 1960. Khi đó, nhiệm vụ chính của Orion là săn ngầm, thả các thiết bị sonar và điều phối các hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Theo thời gian, Orion đã được điều chỉnh để hoạt động trinh sát.

Máy bay RC-135W Rivet Joint của Không quân Anh
© Ảnh : Royal Air Force
Máy bay RC-135W Rivet Joint của Không quân Anh

Orion được trang bị thiết bị radar mạnh, tổ hợp sonar, hệ thống xử lý thông tin. Máy bay trinh sát có thể mang theo bom và tên lửa: tên lửa chống hạm Harpoon, tên lửa đất đối không có dẫn đường và không dẫn đường, bom độ sâu, bao gồm cả bom hạt nhân.

Máy bay tuần tra săn ngầm P-8 Poseidon hiện đại hơn còn được trang bị các thiết bị trinh sát và tìm kiếm, trong khoang bên trong có bom rơi tự do và ngư lôi Mark 54. Ở các giá treo bên ngoài có thể treo tên lửa không đối không Sidewinder và tên lửa chống hạm Harpoon.

Ngoài ra, những chiếc máy bay do thám chiến lược RC-135 có khả năng bay nhiều giờ liên tục và vượt qua hơn chín nghìn km mà không cần tiếp nhiên liệu, đã nhiều lần bay gần biên giới Nga.

Thợ săn biển

Lầu Năm Góc và CIA cũng đang tích cực phát triển hệ thống trinh sát biển. Cục Tình báo Hải quân Hoa Kỳ là một trong những cơ quan lâu đời nhất, nó đã được thành lập vào những năm 1880.

Vào đầu Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã sử dụng rộng rãi không chỉ các tàu chiến mà còn các tàu đánh cá với thiết bị radar, và đến những năm 1960, họ đã chế tạo các tàu trinh sát chuyên dụng dựa trên tàu vận tải dân sự.

Các tàu như vậy đã hoạt động trên toàn bộ đại dương thế giới - từ bờ biển Nam Mỹ đến bờ biển Viễn Đông. Chúng đã thu thập thông tin về các cơ sở quân sự khác nhau, xác định tọa độ và hành trình di chuyển của các mục tiêu có thể bị tấn công, đánh chặn các kênh liên lạc vô tuyến giữa quân đội Liên Xô và các đồng minh.

Nhân viên cứu hộ đổ bộ lên chiếc «Liberty» bị hư hỏng
© Ảnh : Public domain
Nhân viên cứu hộ đổ bộ lên chiếc «Liberty» bị hư hỏng

Trong lịch sử các tàu gián điệp có nhiều sự cố. Ví dụ, vào tháng 6 năm 1967, trong thời gian Chiến tranh 6 ngày giữa Israel và liên quân Ả Rập, tàu do thám USS Liberty đang tiến hành trinh sát ở Biển Địa Trung Hải ngoài khơi bán đảo Sinai. Tưởng rằng tàu do thám USS Liberty là chiến hạm Ai Cập, quân đội Israel liên tục trút bom, nã đạn khiến 34 thủy thủ Mỹ thiệt mạng, 173 người bị thương.

Tháng 1/1968, tầu do thám Mỹ USS Pueblo vi phạm biên giới CHDCND Triều Tiên bị Bắc Triều Tiên bắt giữ. Chỉ trong vòng một giờ, một thủy thủ Mỹ thiệt mạng và 82 người khác bị bắt làm tù binh. Tất cả thủy thủ đoàn bị giam trong trại tù binh chiến tranh.

Bây giờ Hoa Kỳ tiến hành trinh sát chủ yếu bằng các tàu chiến thuộc biên chế. Các tàu khu trục và tuần dương hạm thường xuyên xuất hiện gần lãnh hải của Nga, Mỹ đặc biệt chú ý đến bán đảo Crưm.

Kể từ năm 2014, vùng Biển Đen là khu vực được các cơ quan tình báo quân sự của các nước NATO đặc biệt chú ý. Các sự kiện gần đây cho thấy rằng, sự chú ý này sẽ không giảm sút.