01:31 21 Tháng Chín 2021
Kinh doanh
URL rút ngắn
Theo
40
Theo dõi Sputnik trên

Chuyên gia đánh giá việc Việt Nam được nâng hạng tín nhiệm quốc gia và là nước duy nhất trên thế giới được đồng loạt ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu S&P, Moody’s, và Fitch đánh giá cao, nâng triển vọng lên mức “Tích cực”.

Điều gì làm nên thành công của Việt Nam? Việc được nâng hạng tín nhiệm quốc gia đem lại những lợi ích gì cho đất nước?

Làm sao để chính quyền Hà Nội tiếp tục ‘thuyết phục’ được những tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín hàng đầu thế giới để tiếp tục nâng hạng tín nhiệm quốc gia bằng chính những kỳ tích kinh tế, tăng trưởng GDP, chống dịch Covid-19 và loạt chính sách kinh tế vĩ mô của mình?

Việt Nam được nâng hạng tín nhiệm quốc gia: Nước duy nhất trên thế giới

Năm 2020, bất chấp ảnh hưởng của Covid-19, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên toàn cầu ghi nhận mức tăng trưởng GDP dương (2,91%), là điểm sáng phục hồi kinh tế, vượt qua cả Trung Quốc (2,3%), dẫn đầu châu Á và thuộc nhóm tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới. Đây quả là một kỳ tích đối với một quốc gia đang phát triển.

Đến đầu năm 2021, Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát trở lại và trở thành quốc gia duy nhất trên thế giới được đồng loạt ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu Moody’s. Fitch, S&P nâng hạng tín nhiệm triển vọng lên mức “Tích cực”.

Có thể nói, trong bối cảnh dịch bệnh do coronavirus gây nên (Covid-19) vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới cũng như trong nước, việc Việt Nam “vượt mọi khó khăn để vươn lên”, tận dụng được cơ hội, vừa chống dịch mạnh mẽ, thành công, vừa duy trì phục hồi kinh tế, tránh đứt gãy chuỗi sản xuất để được đồng loạt nâng hạng tín nhiệm là một thành công đáng khâm phục.

Đúng như nhiều chuyên gia, tổ chức, thể chế kinh tế - tài chính toàn cầu nhận định, chính đại dịch Covid-19 này đã bộc lộ và chứng minh sức mạnh nội tại cũng như triển vọng tươi sáng, đầy lạc quan của nền kinh tế Việt Nam – một trong những ngôi sao mới nổi, con hổ mới của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong bối cảnh hiện nay.

Như Sputnik Việt Nam đã thông tin, hôm 18/3, Moody’s quyết định nâng triển vọng kinh tế Việt Nam hai bậc từ “Tiêu cực” lên “Tích cực”. Đây là sự ghi nhận chính đáng thành tựu phát triển kinh tế ấn tượng của Việt Nam, vượt xa những quốc gia có xếp hạng tín nhiệm tương đồng.

© AFP 2021 / Emmanuel Dunand
Moody’s

Moody’s đánh giá nền kinh tế Việt Nam có thể hưởng lợi lớn từ xu thế chuyển dịch sản xuất toàn cầu về sản xuất kinh doanh, thương mại, tiêu dùng hậu Covid-19 với sức cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến chế tạo cũng như khu vực kinh tế đối ngoại, ngoại thương, đầy năng động.

Moody’s cũng đánh giá rất cao điểm số về sức mạnh thể chế - nền chính trị ổn định của Việt Nam, cùng với nỗ lực của Chính phủ tăng cường quản lý ngân sách, nợ công, giải quyết những tồn tại của nền kinh tế, hướng đến xu thế phát triển bền vững.

Đến đầu tháng tư năm 2021, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings (Fitch) nâng triển vọng của Việt Nam từ “Ổn định” lên “Tích cực”. Cần phải nhấn mạnh rằng, đây là điều chưa từng có tiền lệ trong xếp hạng của Fitch trên toàn cầu kể từ khi bùng phát đại dịch Covid-19. Đồng thời, việc Fitch nâng triển vọng cho Việt Nam thể hiện sự tin tưởng của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đối với điều hành chính sách hiệu quả của Chính phủ, triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ cũng như dư địa tài khóa của Việt Nam ngày càng vững chắc.

Tiếp đó, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor’s Global Ratings (S&P) hôm 21/5 vừa rồi cũng khẳng định giữ nguyên hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, nâng triển vọng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.

Theo lý giải của S&P, cơ sở đưa ra quyết định giữ nguyên hệ số tín nhiệm quốc gia và điều chỉnh tăng triển vọng tín nhiệm của Việt Nam lên “Tích cực” là sự ghi nhận thành tựu phát triển kinh tế ấn tượng và cải cách liên tục trong khâu hoạch định chính sách trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn ảnh hưởng nặng nề đến tình hình kinh tế- xã hội.

Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P đánh giá rằng nối tiếp mức tăng trưởng GDP năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới, Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì ở trạng thái tốt để phục hồi vững chắc trong giai đoạn 1-2 năm tiếp theo nhờ vào các giải pháp mang lại hiệu quả cao của Chính phủ để kiểm soát dịch Covid-19 trong nước.

Cùng với đó, Việt Nam có vị thế điểm đến hàng đầu trong Đông Nam Á về thu hút FDI, xuất khẩu tăng trưởng ổn định, nhu cầu nội địa mạnh mẽ và vị thế đối ngoại vững chắc càng củng cố niềm tin và nhận định của S&P về dư địa tăng trưởng tích cực.

Sản xuất linh kiện điện, điện tử tại Công ty TNHH linh kiện tự động Minda Việt Nam ( vốn đầu tư của Ấn Độ) tại Vĩnh Phúc.
© Ảnh : Danh Lam- TTXVN
Sản xuất linh kiện điện, điện tử tại Công ty TNHH linh kiện tự động Minda Việt Nam ( vốn đầu tư của Ấn Độ) tại Vĩnh Phúc.

Ngoài ra, S&P cũng ghi nhận kết quả tài khóa, nợ công tiếp tục giữ vững tính hiệu quả và linh hoạt, góp phần hỗ trợ kiểm soát đại dịch.

“Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới được cả ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm gồm Moody’s, S&P và Fitch đồng loạt nâng triển vọng lên Tích cực”, Bộ Tài chính nêu rõ trong tuyên bố gần đây.

Từ khi đại dịch bùng phát Covid-19 đến nay, Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới được cả ba tổ chức xếp hạng đồng loạt nâng triển vọng lên Tích cực.

“Kết quả này, một lần nữa khẳng định sự đánh giá cao của các tổ chức xếp hạng đối với thành công của Chính phủ Việt Nam”, Bộ Tài chính nhấn mạnh.

“Chưa từng có tiền lệ”

Xoay quanh vấn đề này, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển Ngân hàng (NHNN) - chuyên gia kinh tế Phạm Xuân Hòe cho biết, thành tích này chủ yếu đến từ việc nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều điểm sáng, giữ vững sự ổn định của kinh tế vĩ mô và kiểm soát tốt dịch bệnh.

Đánh giá đây là thành tích chưa từng có tiền lệ, chuyên gia kinh tế Phạm Xuân Hòe nhận định với VGP rằng, dù việc được các tổ chức quốc tế giữ xếp hạng tín nhiệm và nâng triển vọng lên “Tích cực” trong ngắn hạn sẽ chưa có nhiều tác động đến thị trường, cũng như không làm giá cổ phiếu tăng, tuy nhiên, điều này sẽ có lợi cho uy tín của Việt Nam về lâu dài và mở ra cơ hội huy động nguồn vốn tốt hơn cho nền kinh tế.

Trong năm nay 2021, Chính phủ mới sẽ tiếp tục hành động quyết liệt, giữ vững mục tiêu kép: Vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế.

“Cách thức chống dịch sẽ được thay đổi, cập nhật, cải thiện nhằm hạn chế tối đa tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế-xã hội, kiên quyết không để đứt gãy chuỗi sản xuất- cung ứng”, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển Ngân hàng nêu rõ.

Cùng với đó, tiếp nối những kinh nghiệm chống dịch đã có và đang ngày càng hoàn thiện, Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực tối đa mở rộng việc tiêm vaccine Covid-19.

Chuyên gia Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính) cho biết, thành tích vừa đạt được là rất tích cực và đáng ghi nhận. Trong năm 2020, trên toàn thế giới đã có 124 lượt hạ bậc và 133 lượt hạ triển vọng. Cho tới ngày 21/5/2021, đã có 16 quốc gia bị hạ bậc trên toàn thế giới từ 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s, S&P và Fitch.

Các tổ chức này đánh giá triển vọng, tín nhiệm của 1 quốc gia dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: Cải cách hành chính công, quản lý nợ công, hoạt động đầu tư mua sắm Chính phủ, có nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó, nợ công, nợ Chính phủ, cơ chế cải cách hành chính…

Việc Việt Nam khống chế hiệu quả dịch Covid-19 và có tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới đã dẫn đến quyết định nâng hạng triển vọng từ 3 tổ chức trên. Thành quả này sẽ giúp tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư vào Việt Nam.

Việt Nam lợi gì khi được nâng hạng tín nhiệm quốc gia?

Đại diện Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính nhận định, đối với Việt Nam, quyết định nâng hạng tín nhiệm của cả ba tổ chức S&P, Fitch, Moody’s một lần nữa khẳng định, cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao những thành công của Chính phủ Việt Nam trong điều hành đất nước, quyết tâm, quyết liệt để thực hiện mục tiêu kép vừa chiến thắng Covid-19 vừa phục hồi và phát triển kinh tế xã hội, phấn đấu tăng trưởng ở mức cao nhất.

Cùng với đó, việc Việt Nam được 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đều nâng triển vọng lên “Tích cực” còn giúp củng cố niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước về tình hình kinh tế vĩ mô, môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Từ cơ sở này cũng mở rộng cánh cửa tiếp cận thị trường vốn quốc tế, thu hút thêm nguồn lực phát triển nền kinh tế, giúp Việt Nam có thể được tiếp cận với nguồn vốn vay với mức lãi suất thấp hơn khi được đánh giá mức độ rủi ro thấp hơn, mức độ an toàn, tín nhiệm quốc gia cao hơn.

Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính Võ Hữu Hiển, với việc các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đều nâng triển vọng lên “Tích cực”, Việt Nam có thể nâng cao khả năng huy động vốn cũng như đa dạng hóa nguồn huy động vốn trên thị trường quốc tế.

“Đây là cơ sở đảm bảo về năng lực tài chính của Việt Nam, đem lại sự tin tưởng cho các nhà đầu tư, tổ chức tài chính trong và ngoài nước, các đối tác chiến lược”, ông Hiển nhấn mạnh.

Tuy vậy, theo vị lãnh đạo, để duy trì tín nhiệm quốc gia, cũng như triển vọng quốc gia thì Việt Nam phải kiểm soát tốt nợ công, không nên tập trung vay quá nhiều, thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

“Thước đo trả nợ là hệ số tín nhiệm. Chủ đạo của xem xét đánh giá xếp hạng tín nhiệm phản ánh khả năng trả nợ của quốc gia. Hệ số tín nhiệm càng cao thì huy động vốn với chi phí càng thấp. Tín nhiệm càng thấp thì chi phí vay nợ càng cao”, đồng chí Võ Hữu Hiển lưu ý.
Việt Nam cần đi chặng đường dài và nỗ lực bền bỉ

Trên thực tế, theo giới chuyên gia, mặc dù đã gặt hái những thành quả nhất định, nhưng cần phải nhìn nhận rằng, Việt Nam cũng như nhiều nước khác đang chịu nhiều tác động từ đại dịch Covid-19 do là một nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng.

Chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh đánh giá, mức xếp hạng tín nhiệm và triển vọng quốc gia được là một yếu tố để các nhà đầu xác định mức độ rủi ro và khả năng sinh lời trước khi đưa ra quyết định. Khi triển vọng tín nhiệm quốc gia tăng lên, điều đó có nghĩa rằng quốc gia đó đang có những triển vọng tích cực về mức độ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

“Trong trường hợp cải thiện được thứ hạng tín nhiệm, Việt Nam sẽ có cơ hội huy động vốn và đa dạng nguồn vốn huy động trên thị trường vốn quốc tế, có thể vay với lãi suất thấp hơn, nghĩa là chi phí vay giảm”, ông Thịnh phân tích.

Đánh giá ở tầm trung và dài hạn, để tiếp tục được nâng hạng tín nhiệm, Việt Nam còn nhiều việc phải làm.

Chuyên gia Phạm Xuân Hòe bày tỏ, cá nhân ông đồng tình với quan điểm cải cách mạnh mẽ của Chính phủ.

“Hoạt động điều hành ngày càng kỹ trị hơn, đổi mới tư duy trong việc hoạch định chính sách. Các cân đối lớn của nền kinh tế, các chỉ số tăng trưởng được lượng hóa, tính toán đồng bộ, không rời rạc mà có sự kết nối và lan tỏa”, ông Hòa chỉ rõ.

Thêm vào đó, Việt Nam cũng có những chính sách kiểm soát dịch, tính toán chi phí nguồn lực đầy đủ. Đồng thời, Chính phủ có các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành dịch vụ như du lịch, hàng không. Ngoài ra, theo chuyên gia kinh tế Phạm Xuân Hòe, bản thân ông cũng ủng hộ quan điểm về việc thúc đẩy kinh tế số và thanh toán không dùng tiền mặt, tận dụng lợi thế về độ bao phủ dân số sử dụng mạng internet khá cao, phát triển thương mại điện tử, thúc đẩy phổ biến các phương thức thanh toán trực tuyến…

Về phần mình, chuyên gia Đinh Trọng Thịnh nêu quan điểm, trong nhìn nhận của các “ông lớn” xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, Việt Nam đã có thành tựu phát triển ấn tượng hơn nhiều so với các quốc gia có xếp hạng tương đồng. Chính phủ đã có các giải pháp chính sách phát triển và kiềm chế dịch bệnh hiệu quả cùng với các biện pháp hỗ trợ hoạt động kinh tế hiệu quả.

“Tuy nhiên, Việt Nam cần hướng tới các mục tiêu cao hơn, vì dư địa cải cách vẫn còn rất nhiều để phấn đấu có thứ hạng tín nhiệm ngang với các nền kinh tế có thứ hạng cao trên thế giới, chứ không chỉ so với các đối thủ “đồng cân đồng lạng”, ông Đinh Trọng Thịnh nhấn mạnh.

Theo vị chuyên gia, đây là bài toán không đơn giản đối với các cơ quan điều hành, để thực hiện được.

“Việt Nam cần đi một “chặng đường dài” với nỗ lực bền bỉ”, chuyên gia Đinh Trọng Thịnh khẳng định.

Cùng với đó, có hàng loạt công việc cần phải làm, như tập trung tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý chính sách, trước hết là các luật liên quan đến kinh tế. Luật pháp phải chặt chẽ, có tính ổn định, tương thích cao với thông lệ quốc tế.

“Nếu thay đổi quy định cần phải có quy trình thống nhất, được thông báo trước, tránh để trường hợp nhà đầu tư gặp nhiều vướng mắc, khó lường đoán như một số quy định trước đây”, ông Thịnh lưu ý.

Vị chuyên gia tiếp tục cho rằng, cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam cần được tiếp tục hoàn thiện và đổi mới theo hướng làm sao công khai minh bạch, giảm thiểu những nội dung không rõ ràng. Cần cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu các chi phí tiếp cận thị trường, thời gian tìm hiểu văn bản cũng như thực thi các luật, quy định của Nhà nước. Quy trình đầu tư công, cũng như mua sắm Chính phủ, cần được thực hiện trên cơ sở đấu thầu chặt chẽ, công khai minh bạch hơn…

“Việt Nam cũng cần cải thiện khả năng quản lý nợ công, giảm bớt tỷ lệ nợ công/GDP, nợ Chính phủ/GDP…bảo đảm tỷ lệ an toàn cao”, ông Thịnh nói.

Đồng thời, các chính sách quản lý cần tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế phát triển công bằng, bình đẳng và đúng pháp luật, khu vực kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát triển mạnh…

Ông Đinh Trọng Thịnh nhắc lại, khi được nâng hạng tín nhiệm, vị thế kinh tế của Việt Nam được nâng cao. Theo đó, chắc chắn khi cần vay nợ trên trường quốc tế, sẽ có nhiều ưu đãi với lãi suất thấp hơn, thời hạn vay nợ có thể được kéo dài, các điều kiện liên quan đến bảo lãnh, các điều kiện khác được nới lỏng…

“Đến lúc đó, chúng ta thu hút đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp dễ dàng, thuận lợi, các chi phí khác thấp, lợi đơn lợi kép”, chuyên gia nhận định.

Quan điểm của Chính phủ Việt Nam trong năm 2021 và các năm tiếp theo được xác định rằng, mặc dù khó khăn, thách thức là không nhỏ, nhưng Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi mục tiêu củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế.

Cùng với đó, Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế song song với nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 để tiếp tục tạo nền tảng vững chắc thực hiện các mục tiêu trung, dài hạn của đất nước và nâng cao vị thế tín nhiệm quốc gia.

Đọc thêm: