01:04 05 Tháng Mười Hai 2020
Báo chí thế giới
URL rút ngắn
Việt Nam và Biển Đông (103)
80
Theo dõi Sputnik trên

Coronavirus có thể sẽ mở đường cho Bắc Kinh ở Biển Đông? Vụ Trung Quốc đâm chìm tàu Việt Nam ở Hoàng Sa tuần trước đã cho thấy sự cần thiết phải lưu tâm đến vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, ngay cả trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng của dịch Covid-19.

Trung Quốc vừa kêu gọi cả thế giới cùng đoàn kết chiến thắng đại dịch SARS-CoV-2 do coronavirus vừa tiếp tục tăng cường tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Đồng thời, theo cựu Giám đốc Trung tâm Tình báo hỗn hợp Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, vụ đánh chìm tàu cá Việt Nam giúp Trung Quốc củng cố vị thế của mình trên Biển Đông.

Bất chấp đại dịch Covid-19: Trung Quốc vẫn tiếp tục khiêu khích trên Biển Đông

Sự cố chìm tàu ​​Việt Nam trên Biển Đông là một trong những sự kiện thu hút sự chú ý của dư luận trong tuần qua. Vụ việc đã một lần nữa làm dấy lên những lo ngại, cho thấy sự căng thẳng kéo dài vẫn đang âm ỉ giữa Trung Quốc và Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông, ngay cả trong bối cảnh đại dịch coronavirus vẫn đang có nhiều diễn biến phức tạp ở quy mô toàn cầu.

Theo cây bút Prashanth Parameswaran của tờ The Diplomat, ngay cả khi Covid-19 đang tác động đến các quốc gia trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương, vấn đề Biển Đông vẫn là một điều đáng lưu tâm theo dõi. Mặc cho những ảo tưởng về sự “yên bình” đang ngự trị Biển Đông, chúng ta vẫn thấy được những căng thẳng tiếp diễn trong năm vừa qua.

Cuối tuần trước, một sự cố ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam đã cho thấy rõ những xung đột hiện hữu đó. Sự vụ có liên quan đến việc tàu cá Việt Nam chìm ngoài khơi biển Đông, “sự có mặt” của tàu Hải cảnh Trung Quốc, cũng như một loạt các bình luận phản ứng của cả hai bên, cũng như việc Việt Nam trao công hàm phản đối cho đại diện ngoại giao Trung Quốc, trong khi phía Bắc Kinh cho rằng tàu Việt Nam đã tiến vào khu vực lãnh thổ của họ, rằng “đây là hành động bất hợp pháp”, các tàu Việt Nam từ chối rời đi, và tự “va chạm” với tàu Trung Quốc sau khi có những “động thái nguy hiểm”.

Mặc cho các chi tiết cụ thể trong vụ việc là gì đi nữa, vụ việc vừa qua đã nói lên nguy cơ căng thẳng tiềm ẩn nhưng liên tục ở Biển Đông, ngay cả trong lúc các nước đang tập trung mọi nguồn lực để đối phó với dịch Covid-19.

Bất chấp những lời kêu gọi về việc tạm thời đình chỉ xung đột hoặc hạn chế gia tăng căng thẳng để giải quyết đại dịch, trong lĩnh vực hàng hải và các vấn đề như Biển Đông, không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự “đình chiến”, và những khiêu khích có chủ ý vẫn còn ở mức cao.

Thật vậy, các động thái liên quan đến vụ chìm tàu ​​Việt Nam cũng tương tự như các trường hợp trước đây chúng ta đã thấy - bao gồm việc hủy bỏ đối thoại, cố tình ngăn cản, làm gián đoạn hoạt động thăm dò tài nguyên, và quấy rối, đâm chìm tàu cá của ngư dân. Những sự vụ này rõ ràng đang đi ngược lại các cơ chế trước đây mà cả hai bên đã đạt được để quản lý căng thẳng hàng hải, cũng như các tài liệu ở cấp độ cao hơn như Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông.

Nói một cách cụ thể hơn, với những chiến lược hàng hải của mình, Bắc Kinh có vẻ như không mấy để ý đến những mâu thuẫn giữa việc một mặt thể hiện tình đoàn kết với các quốc gia láng giềng trước đại dịch Covid-19, trong khi mặt khác tiếp tục tăng cường tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông.

The Diplomat cũng dẫn Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về sự cố được ban hành ngày 6 tháng 4 ghi nhận, vụ chìm tàu cá Việt Nam chỉ là một động thái mới nhất trong một loạt các động thái mà Trung Quốc đã thực hiện trong chiến lược Biển Đông kể từ khi đại dịch bắt đầu. Cùng với đó là một loạt các bước đi khác từ phía Bắc Kinh, bao gồm việc xây các trạm nghiên cứu mới tại các căn cứ quân sự trên Đá Chữ Thập và Đá Xu Bi, đưa máy bay quân sự ra Đá Chữ Thập, cũng như tiếp tục triển khai lực lượng dân quân hàng hải. Điều này đã và đang làm phức tạp thêm tình hình vốn đã khó khăn mà các quốc gia Đông Nam Á phải đối mặt khi trong bối cảnh dịch Covid-19.

Chắc chắn rằng, theo tác giả bài viết, điều quan trọng cần phải nhớ là Biển Đông chỉ là một trong một số những vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực, và ngay cả trong chính mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, động lực giải quyết vấn đề này thường diễn ra trong bối cảnh các bên phát triển rộng hơn các mối quan hệ và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Tuy nhiên, sự cố trong tuần qua là một lời nhắc nhở rằng, những căng thẳng trên “điểm nóng” Biển Đông vẫn có thể xuất hiện ngay trong bối cảnh Covid-19 đang hoành hành.

Coronavirus có thể sẽ mở đường cho Bắc Kinh ở Biển Đông?

Khi quân đội Hoa Kỳ đang vướng vào cuộc tranh cãi về việc xử lý sự khủng hoảng bùng phát Covid-19 trên một trong những tàu sân bay Thái Bình Dương của mình, Trung Quốc đã ngay lập tức nối lại các hoạt động ở Biển Đông, bài bình luận trên CNN khẳng định.

Trong tuần qua, trang web phiên bản tiếng Anh của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã đăng tải những thông tin về các cuộc tập trận hải quân quy mô lớn và cả vụ chìm tàu ​​đánh cá Việt Nam. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng tuyên bố tăng cường các ngành công nghiệp quân sự ở Vũ Hán, tâm chấn ban đầu của đại dịch Covid-19.

Các cuộc tập trận ở Biển Đông diễn ra sau khi tàu sân bay USS Theodore Roosevelt của Hoa Kỳ đi qua vùng biển đó trên đường tới đảo Guam, nơi chiến hạm Mỹ hiện đang cập cảng sau khi ghi nhận hơn 170 trường hợp nhiễm coronavirus trên tàu.

Chỉ huy của tàu sân bay Roosevelt, thuyền trưởng Brett Crozier, đã bị sa thải vào tuần trước sau chỉ vì bức thư “cầu cứu” mà ông gửi đi nhằm cứu mạng những thủy thủ và thuộc cấp của mình trên tàu.

Một tàu sân bay khác của Hải quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, USS Ronald Reagan, cũng đang đối mặt với "một số ít” các trường hợp dương tính, một quan chức quốc phòng nói với CNN tuần trước. USS Ronald Reagan hiện đang cập cảng tại Yokosuka, Nhật Bản, và đang được bảo trì.

Cuối tuần trước, một căn cứ thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, Căn cứ Hải quân Sasebo, đã báo cáo trường hợp đầu tiên về ca nhiễm coronavirus. Các trường hợp nhiễm virus khác đã được báo cáo tại các cơ sở của Hoa Kỳ tại Hàn Quốc.

Tổng cộng, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ghi nhận hơn 1.500 trường hợp mắc Covid-19 trong hàng ngũ của mình.

Lầu Năm Góc đã thực hiện các bước để kiểm soát sự lây lan của virus trong quân đội, bao gồm hạn chế sự di chuyển của binh sĩ giữa các cơ sở trên toàn thế giới và hủy bỏ các bài tập huấn luyện, thậm chí là trì hoãn một số khóa huấn luyện cơ bản cho các tân binh.

Cái giá phải trả cho những động thái trên là sự mệt mỏi của những binh sĩ đang mong đợi được quay trở lại Hoa Kỳ, hoặc không thể làm quen với các nhiệm vụ hoặc trang thiết bị vì không được huấn luyện.

Vụ đánh chìm tàu cá Việt Nam giúp Trung Quốc củng cố vị thế

Jonathan Hoffman, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ về các vấn đề công cộng, nói với các phóng viên tuần trước rằng Lầu Năm Góc đưa ra các đánh giá rủi ro hàng ngày với mục đích nhanh chóng lấy lại "khả năng hoạt động đầy đủ".

Nhưng một số nhà phân tích cho rằng, ở Biển Đông, ngay cả những đợt rút lui ngắn hạn cũng có thể tạo ra những cơ hội mà Quân đội Trung Quốc có thể tận dụng.

“Tôi nghĩ rằng Trung Quốc đang lợi dụng và khai thác những thách thức liên quan đến coronavirus mà Hải quân Hoa Kỳ phải đối mặt để cải thiện vị thế của mình ở Biển Đông và sẽ hoạt động ở đó trong khi Mỹ đang lâm vào thế bế tắc", Carl Schuster, một thuyền trưởng của Hải quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu và cựu Giám đốc Trung tâm Tình báo hỗn hợp Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ nhận định.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với gần như toàn bộ Biển Đông rộng 1,3 triệu dặm vuông. Nước này đã mạnh mẽ khẳng định chủ quyền của mình trong những năm gần đây bất chấp sự phản đối từ một số quốc gia Đông Nam Á. Hoa Kỳ từ lâu đã cáo buộc Bắc Kinh quân sự hóa các đảo ở đó thông qua việc triển khai các tổ hợp quân sự và xây dựng các cơ sở quân sự.

Ông Schuster xem vụ chìm tàu ​​đánh cá Việt Nam gần đây là ví dụ minh họa cách Trung Quốc củng cố vị thế của mình.

Thuyền đánh cá Việt Nam đã chìm vào thứ Năm tuần trước, trong vùng biển gần Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này.

Trung Quốc cho biết chiếc thuyền cá Việt Nam bị chìm sau khi nó đâm vào một tàu Hải cảnh Trung Quốc, trong vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc. Việt Nam cho biết tàu đánh cá của họ đang hoạt động hợp pháp và tuyên bố ​​Trung Quốc có trách nhiệm trong vụ việc. Cả hai bên đều thừa nhận thuyền viên của tàu đánh cá đã được tàu Trung Quốc giải cứu.

Nhiều nhà phân tích đã lưu ý rằng Việt Nam dường như đang xích lại gần hơn đến Mỹ do căng thẳng ở Biển Đông. Trên thực tế, tàu Roosevelt đã có chuyến thăm cảng đến Đà Nẵng trước khi các trường hợp nhiễm coronavirus được ghi nhận trên tàu.

Chuyến thăm cảng 5 ngày vào đầu tháng 3, là lần thứ hai của một tàu sân bay Mỹ đến Việt Nam kể từ sau Chiến tranh Việt Nam, nhân kỷ niệm 25 năm quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt. Chuyến thăm liên quan đến việc trao đổi văn hóa và thể thao, cũng như tập trung trao đổi vào việc hợp tác phòng chống bệnh truyền nhiễm.

Trong thông báo được đăng trên trang web phiên bản tiếng Anh hôm thứ Sáu, Quân đội Trung Quốc nói rằng "sự bùng nổ của dịch Covid-19 đã làm giảm đáng kể khả năng triển khai tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương".

Các hàng không mẫu hạm, với sự bổ sung của 90 máy bay chiến đấu và máy bay trực thăng, là thứ dễ nhận thấy nhất của Hải quân Hoa Kỳ và là những tài sản quan trọng nhất của Quân đội Mỹ.

Nhưng với việc tàu Roosevelt bị cách ly ở đảo Guam trong một thời gian không xác định, hiện vẫn chưa rõ vai trò của nó ở Biển Đông có thể được thay thế như thế nào. Trong khi Mỹ có 11 hàng không mẫu hạm trong hạm đội của mình, các tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân đòi hỏi phải đại tu và bảo trì dài hạn đều đặn, thường không có sẵn để triển khai bất cứ lúc nào.

USS Theodore Roosevelt
© REUTERS / US Navy
USS Theodore Roosevelt

Theo Viện Hải quân Hoa Kỳ, chỉ có n5ăm tàu ​​sân bay có sẵn kể từ ngày 30 tháng 3. Một trong số đó là Roosevelt, một chiếc khác là Reagan, hai chiếc khác được triển khai ở Vịnh Ba Tư để đối phó với mối đe dọa từ Iran và chiếc thứ năm là trên Bờ Đông Hoa Kỳ.

Việc di chuyển một tàu sân bay từ một điểm trên các đại dương trên thế giới sang một nơi khác có thể để lại các lỗ hổng trong khu vực mà nó khởi hành.

Theo ông Schuster, nhận thức rằng sự sẵn sàng chiến đấu của Hoa Kỳ đang bị sụt giảm có thể thúc đẩy Trung Quốc khi thực hiện một số cuộc tập trận gia tăng ở Biển Đông, chẳng hạn như những cuộc tập trận đã diễn ra hồi tháng Ba.

Bắc Kinh phủ nhận lợi dụng coronavirus làm vũ khí địa chính trị

Trung Quốc liên tục bác bỏ quan điểm rằng Bắc Kinh đang cố gắng lợi dụng đại dịch Covid-19 để đạt được ảnh hưởng địa chính trị.

Tại cuộc họp báo thường kỳ vào ngày 3 tháng 4, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh (Hua Chunying) lên tiếng miêu tả đợt bùng phát và lây lan virus corona là một cuộc chiến.

“Khi lao vào chiến đấu với dịch bệnh căng thẳng, có ai nghĩ mỗi người sẽ nhận được bao nhiêu phần thưởng sau cuộc chiến hay không? Điều quan trọng nhất là nỗ lực hết sức mình và chạy đua với thời gian để đạt được chiến thắng cuối cùng trong đại dịch”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc bày tỏ.
“Chúng tôi muốn chia sẻ thực tiễn và kinh nghiệm phòng chống dịch Covid-19 của Trung Quốc với các quốc gia khác, nhưng Bắc Kinh sẽ không biến nó thành bất kỳ loại vũ khí hoặc công cụ địa chính trị nào”, bà Hoa Xuân Oánh nêu rõ.
Mỹ: Trung Quốc hãy ngừng lợi dụng Covid-19 để độc chiếm Biển Đông

Thế nhưng, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ rất lưu tâm đến những động thái bất thường của phía Trung Quốc trong bối cảnh dịch bệnh leo thang.

Trong thông cáo báo chí ngày 6/4, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Morgan Ortagus cho biết đây là động thái mới nhất trong một loạt các hoạt động của Trung Quốc nhằm tuyên bố chủ quyền trên biển trái pháp luật cũng như làm phương hại tới các nước láng giềng Đông Nam Á của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông.

“Chúng tôi quan ngại sâu sắc trước thông tin về vụ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đâm chìm một tàu đánh cá của Việt Nam ở khu vực gần quần đảo Paracel (Hoàng Sa) trên Biển Đông. Đây là vụ việc mới nhất trong một loạt hành động của Trung Quốc nhằm khẳng định những tuyên bố hàng hải trái pháp luật và gây thiệt hại cho các nước láng giềng Đông Nam Á ở Biển Đông”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Morgan Ortagus nhấn mạnh.

Trước đó, ngày 20/3, trong khi đại dịch Covid-19 hoành hành trên toàn cầu thì Trung Quốc lại thản nhiên công bố khánh thành các trạm nghiên cứu mới trên những căn cứ quân sự mà Bắc Kinh xây dựng ở khu vực Đá Chữ Thập và Đá Xubi (thuộc quần đảo Trường Sa). Chưa hết, Trung Quốc tiếp tục triển khai nhiều hoạt động quân sự đáng chú ý như tiến hành cho tiêm kích đặc chủng đáp xuống Đá Chữ Thập, triển khai lực lượng dân quân biển xung quanh quần đảo Trường Sa (Spratly).

“Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc tập trung vào việc ủng hộ các nỗ lực quốc tế nhằm đối phó với đại dịch toàn cầu COVID-19, đồng thời chấm dứt ngay việc lợi dụng sự sao lãng hoặc dễ tổn thương của các nước khác hòng mở rộng các tuyên bố chủ quyền trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông”, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nhấn mạnh.

Trong khi đó, Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) luôn khẳng định rằng họ không có trường hợp nào lây nhiễm coronavirus, đồng thời cũng chẳng hề phải đối mặt với thách thức dịch bệnh như mối bận tâm của Hoa Kỳ. PLA còn nhấn mạnh khoảng một tháng trước rằng không có bất kỳ binh lính, thủy thủ hay phi công nào trong biên chế của họ bị nhiễm Covid-19.

Tất nhiên, rộng rãi dư luận quốc tế hẳn vẫn hoài nghi về tuyên bố này. Nhưng theo ông Schuster, Trung Quốc cũng có một số lợi thế trong việc kiểm soát, hoặc ít nhất là che giấu, số lượng người nhiễm mà PLA có trong lực lượng biên chế hải quân của mình.

“Đơn cử, trong khi các hạm đội của Hải quân Hoa Kỳ phân bổ rải rác trên Thái Bình Dương, cách rất xa bờ biển của mình và tham dự nhiều hoạt động tuần tra lâu hơn thì hầu hết các tàu Hải quân của phía Trung Quốc đều chỉ di chuyển trên biển dưới 30 ngày trong một hải trình và hoạt động gần căn cứ của mình”, chuyên gia Schuster cho rằng điều này giúp tạo điều kiện “thay thế thuyền viên bị nhiễm Covid-19 và di rời khỏi tàu, đồng thời đưa lính hải quân khỏe mạnh từ các tàu khác đến”.

Việc triển khai các đợt hành trình, nghiên cứu thăm dò trên Biển Đông hay Biển Hoa Đông của phía Trung Quốc cũng không bao gồm hải trình thăm cảng nước ngoài. Hầu hết các tàu của PLA chỉ ra khơi, tập trận, huấn luyện từ 5 đến 10 ngày rồi lại trở về về cảng quân sự của mình, nơi vốn dĩ đã đầy giới hạn an ninh cùng với việc ngăn chặn bất kỳ hành vi hay báo cáo công khai nào về những ca nhiễm Covid-19 tiềm tàng”, vị chuyên gia nói thêm.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc bồi thường vụ tàu cá bị đâm chìm ở Hoàng Sa

Ngày 03/04/2020, trả lời câu hỏi của phóng viên về thông tin tàu cá QNg 90617 TS cùng 8 ngư dân Việt Nam gặp nạn tại khu vực đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết:

Theo thông tin từ các cơ quan chức năng của Việt Nam, tàu cá QNg 90617 TS và 8 ngư dân Việt Nam đang hoạt động bình thường tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì bị tàu hải cảnh Trung Quốc ngăn cản và đâm chìm.

Theo bà Lê Thị Thu Hằng, như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế.

“Hành động trên của tàu công vụ Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, gây thiệt hại về tài sản, đe doạ an toàn tính mạng và lợi ích hợp pháp của ngư dân Việt Nam, đi ngược lại nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước về việc đối xử nhân đạo với ngư dân và Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), gây phức tạp tình hình và không có lợi cho quan hệ hai nước cũng như việc duy trì hoà bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ.

Ngày 03/04/2020, đại diện Bộ Ngoại giao đã giao thiệp với đại diện Đại sứ quán Trung Quốc và trao công hàm phản đối, yêu cầu phía Trung Quốc điều tra làm rõ, xử lý nghiêm đối với nhân viên công vụ và tàu Hải cảnh Trung Quốc nêu trên, không để tái diễn những hành động tương tự, đồng thời bồi thường thoả đáng các thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.

Theo thông tin từ các cơ quan chức năng của Việt Nam, đến ngày 03/04/2020, 8 ngư dân Việt Nam trên tàu QNg 90617 TS đã được tiếp nhận an toàn. Ngày hôm nay 7/4, toàn bộ 8 ngư dân này đã về đến đất liền và được tiến hành thủ tục cách ly theo quy định của Bộ Y tế Việt Nam vì có ngư dân tiếp xúc với người trên tàu Trung Quốc.

Chủ đề:
Việt Nam và Biển Đông (103)