03:50 29 Tháng Mười Một 2020
Kinh doanh
URL rút ngắn
20
Theo dõi Sputnik trên

Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực RCEP đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Tuy nhiên, RCEP không hoàn toàn màu hồng. Nhiều chuyên gia lo ngại RCEP khiến nền kinh tế Việt Nam, ASEAN phụ thuộc vào Trung Quốc và các đối tác thương mại lớn Hàn Quốc, Nhật Bản.

Nhiều chuyên gia “lo hơn là mừng”, sợ Việt Nam sẽ “chịu thiệt” khi nhập siêu cao từ Trung Quốc, phụ thuộc quá nhiều vào Bắc Kinh, trong khi các đối tác Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand đều được hưởng lợi.

Cùng với đó, bên cạnh nội khối ASEAN, các nền kinh tế Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand đều có tính cạnh tranh cao, hàng rào thuế quan chặt chẽ, làm sao để hàng hóa Việt Nam chiến thắng, chiếm lĩnh thị trường và không “để thua ngay trên sân nhà” khi hầu hết nền kinh tế RCEP “không phải dạng vừa”?

Việt Nam ký RCEP, lo nhập siêu từ Trung Quốc, Bộ Công Thương lên tiếng

Cùng với nhiều FTA đã ký, không thể phủ nhận những lợi ích to lớn của Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đối với Việt Nam và ASEAN, nhất là trong bối cảnh phục hồi hậu khủng hoảng Covid-19, chạy đà cạnh tranh với Trung Quốc, nâng tầm chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như thúc đẩy tăng trưởng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại, RCEP sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và ASEAN sẽ phụ thuộc vào các nền kinh tế lớn, tăng nhập siêu trong bối cảnh năng lực cạnh tranh, lực lượng lao động, năng suất nền kinh tế còn hạn chế.

Riêng đối với Việt Nam, nhiều chuyên gia đánh giá, cũng như CPTPP, EVFTA, việc ký kết thành công RCEP giúp nâng tầm vị thế, vươn lên tham gia vào chuỗi cung ứng, những giá trị toàn cầu, mang lại nhiều lợi ích tốt hơn cho nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Tuy nhiên, RCEP được giới chuyên gia tài chính kinh tế và hoạch định chính sách đánh giá “không hoàn toàn màu hồng” với Việt Nam. Đặc biệt là trong bối cảnh, Việt Nam đang nỗ lực giảm gánh nặng, sự phụ thuộc vào một số đối tác kinh tế lớn của mình như Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU.

Trước những lo ngại này, ngày 19/11, Bộ Công Thương tổ chức buổi trao đổi về các vấn đề xung quanh Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Tại sự kiện, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại Đa biên Lương Hoàng Thái đã có những trao đổi cụ thể.

Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) sau 8 năm đàm phán (từ năm 2012), đã được ký kết thành công hôm 15/11 trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN 37 vừa qua.

Đây là Hiệp định thương mại tự do được đề xuất giữa 10 nước thành viên ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand.

Phát biểu sau khi ký RCEP, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cho biết, Hiệp định RCEP khi được thực thi sẽ tạo nên một thị trường lớn với quy mô 2,2 tỷ người tiêu dùng, chiếm khoảng 30% dân số thế giới, khoảng 30% GDP toàn cầu, tương đương gần 27 nghìn tỷ USD và sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất trên thế giới.

“Với các cam kết về mở cửa thị trường và hài hòa hóa quy tắc xuất xứ cũng như tăng cường các biện pháp tạo thuận lợi thương mại, Hiệp định này sẽ tạo cơ hội để phát triển các chuỗi cung ứng mới trong khu vực, thiết lập thị trường xuất khẩu ổn định lâu dài cho Việt Nam”, ông Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Tuy nhiên, cũng xuất hiện nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại RCEP sẽ gây nên xung đột về lợi ích kinh tế, tăng nhập siêu cho Việt Nam về lâu dài do các nền kinh tế đồng nhất định hướng xuất khẩu.

Cụ thể hơn, RCEP sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nhập siêu với Trung Quốc và các đối tác khác. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, chỉ tính 10 tháng năm 2020, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang ASEAN là 18,92 tỷ USD còn nhập khẩu lên tới 24,5 tỷ USD. Trong khi đó, với Trung Quốc, Việt Nam xuất khẩu 37,91 tỷ USD, còn nhập khẩu lên tới 65,62 tỷ USD.

Thị trường Hàn Quốc, Việt Nam xuất khẩu 16,1 tỷ USD, nhập khẩu 37,47 tỷ USD (nhập siêu 27 tỷ USD). Với riêng Nhật Bản, Việt Nam xuất khẩu 15,74 tỷ USD trong khi nhập khẩu 16,55 tỷ USD. Việt Nam cũng nhập siêu từ Australia 0,9 tỷ USD.

Về vấn đề này, Vụ Chính sách Thương mại Đa biên Bộ Công Thương cho rằng, với lợi thế về việc hài hòa quy tắc xuất xứ, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam với nguồn nguyên liệu đầu vào từ các thị trường khác như Nhật Bản, Hàn Quốc để hưởng ưu đãi thuế quan của Hiệp định RCEP, từ đó thúc đẩy xuất khẩu sang các thị trường trong khu vực, kể cả Trung Quốc và một số nước khác.

“Hiệp định RCEP không tạo thêm “nguy cơ” cho bất kỳ nước nào”, đại diện Bộ Công Thương nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, trên thực tế, Việt Nam đã tham gia với các nước Đông Nam Á và 5 nước đối tác trong RCEP theo các hiệp định FTA giữa nội khối ASEAN, cụ thể là hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các FTA giữa ASEAN với từng đối tác trong số 5 đối tác trên (gọi là các hiệp định FTA ASEAN+1).

Do đó, trong quá trình tự do hoá thuế quan với các nước ASEAN được thực hiện trong suốt hơn 20 năm qua và với 5 nước đối tác trên trong khoảng 15 năm qua.

Như Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã phát biểu trước đó sau khi ký kết RCEP, Bộ Công Thương khẳng định việc thực hiện hiệp định RCEP sau khi được thông qua sẽ không tạo ra cú sốc về giảm thuế quan đối với Việt Nam.

Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại Đa biên Lương Hoàng Thái cũng nhấn mạnh, với tất cả các nước ASEAN, đây là hiệp định không hướng đến giá trị gia tăng mới về mở cửa thị trường do ASEAN đều đã FTA với các đối tác.

Thay vào đó, Hiệp định RCEP về cơ bản là thỏa thuận mang tính kết nối các cam kết đã có của ASEAN với 5 đối tác trong một Hiệp định FTA. Ví dụ, doanh nghiệp chỉ phải sử dụng một quy tắc xuất xứ thay vì 5 bộ quy tắc xuất xứ riêng ở các FTA trước đây. Tương tự, các quy tắc về thủ tục hải quan và tạo thuận lợi thương mại cũng được thống nhất và tăng cường

“Bộ Công Thương cho rằng về cơ bản sẽ không tạo ra cam kết mở cửa thị trường hay áp lực cạnh tranh mới mà chủ yếu hướng đến tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ”, ông Thái nêu rõ.

Vụ trưởng Lương Hoàng Thái cũng nhấn mạnh, với góc độ hài hòa các quy định hiện có của các Hiệp định ASEAN đã có với các đối tác thì Hiệp định được coi là có giá trị cao trong việc giảm chi phí giao dịch, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường vị trí trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết các xung đột về thương mại trong khu vực.

Đơn cử như doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, khó tận dụng được ưu đãi do có nhiều quy định khác nhau giữa Hiệp định của ASEAN và các nước đối tác.

Trong khi đó, với Hiệp định RCEP, đại diện Bộ Công Thương cho rằng các khó khăn này sẽ giảm đi” do chỉ dùng chung một bộ quy tắc duy nhất và cho phép cộng gộp hàm lượng từ tất cả các nước trong khu vực.

Ông Thái cũng nêu ra ví dụ tương tự, trước đây nếu có tranh chấp thương mại với một đối tác lớn thì các nước ASEAN cũng khó giải quyết hơn. Còn hiện nay, với một cơ chế mang tính đa phương với cả 15 nước tham gia thì các quy tắc thương mại sẽ được tuân thủ triệt để hơn.

“Với góc độ như vậy, Hiệp định RCEP chắc chắn sẽ không làm trầm trọng nhập siêu, thậm chí có khả năng cải thiện cho Việt Nam và các nước ASEAN, đặc biệt là trong dài hạn”, đại diện Bộ Công Thương nhấn mạnh.

Rút ra kinh nghiệp hội nhập thành công khi ký RCEP

Cũng theo Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại đa biên Bộ Công Thương, nhập siêu hay không là một yếu tố cần xem xét, nhưng ông Thái khẳng định, đây không phải là yếu tố duy nhất khi cân nhắc lợi ích của các FTA.

Vị lãnh đạo dẫn chứng, như trường hợp Việt Nam có FTA song phương và khu vực với Hàn Quốc, nay thêm quan hệ FTA thông qua Hiệp định RCEP. Mặc dù còn nhập siêu lớn nhưng không thể phủ nhận giá trị của các hiệp định này trong việc giúp gắn kết hai nền kinh tế, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và đem lại nhiều giá trị cụ thể cho người dân và doanh nghiệp hai bên.

Ông Thái thẳng thắn, khi Việt Nam gia nhập WTO, nhập siêu cũng rất lớn nhưng từ việc chấp nhận hội nhập để tự vươn lên thì các doanh nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và doanh nghiệp không bị giảm đi mà còn tăng lên đáng kể.

“Nay Việt Nam chúng ta đã hội nhập trong nhiều năm nên hy vọng sẽ rút ra được các kinh nghiệm cần thiết để hội nhập thành công khi tham gia Hiệp định RCEP”, Vụ trưởng Lương Hoàng Thái khẳng định.

Việt Nam có tăng phụ thuộc vào Trung Quốc khi ký RCEP?

Với thực tế Việt Nam luôn là nước nhập siêu lớn từ Trung Quốc, nhiều chuyên gia lo ngại RCEP sẽ khiến Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc về các nguồn cung cho hầu hết đầu vào của các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, cũng như một số hàng nội địa của Việt Nam, hay là phụ thuộc vào thị trường của Trung Quốc trong việc xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt Nam.

Trao đổi về vấn đề này, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại đa biên Lương Hoàng Thái phân tích, Việt Nam đã tham gia cùng các nước ASEAN để mở cửa thị trường với Trung Quốc thông qua Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) vào năm 2010.

“Với tỷ lệ tự do hóa thuế quan mà Việt Nam cam kết với Trung Quốc theo Hiệp định RCEP không cao hơn so với Hiệp định ACFTA, việc thực thi Hiệp định RCEP về cơ bản sẽ không tạo ra áp lực cạnh tranh mới và gia tăng cam kết mở cửa thị trường với Việt Nam”, ông Thái nói.

Đại diện Bộ Công Thương cũng nêu rõ, với lợi thế về việc hài hòa quy tắc xuất xứ trong Hiệp định RCEP, Việt Nam sẽ có cơ hội sử dụng nguyên liệu đầu vào tối ưu hơn để sản xuất hàng hóa xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên RCEP bao gồm Trung Quốc với sức cạnh tranh cao hơn khi chỉ khai thác Hiệp định ACFTA, do đó có cơ hội thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này.

Theo Vụ trưởng Lương Hoàng Thái, Hiệp định RCEP về cơ bản có thể coi là việc các nước ASEAN đang đa phương hóa quan hệ thương mại song phương trước đây đã có với Trung Quốc dựa trên các quy định của WTO có được các nước cập nhật cho phù hợp với tình hình mới.

“Do vậy, không thể nói Hiệp định RCEP là ASEAN phụ thuộc hơn vào bất cứ thị trường nào, có phụ thuộc ở đây thì là phụ thuộc vào các quy định mang tính đa phương, minh bạch và đã được quốc tế công nhận trong nhiều năm qua”, Bộ Công Thương bày tỏ.
Làm sao để hàng hóa Việt Nam “không thua ngay trên sân nhà”?

Trên thực tế, các nền kinh tế trong RCEP có mối tương đồng và cạnh tranh rất cao. Nhiều vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế, thương mại đó là làm sao để hàng hoá Việt Nam có tính cạnh tranh hơn, “không thua ngay trên sân nhà” so với các đối thủ trong nội khối RCEP.

Về vấn đề này, ông Lương Hoàng Thái cũng thừa nhận, khi Hiệp định RCEP đi vào hiệu lực sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh do đặc điểm các nền kinh tế trong khu vực RCEP do có nhiều điểm tương đồng, thậm chí có năng lực cạnh tranh mạnh hơn Việt Nam trong khi chất lượng và hàm lượng giá trị gia tăng của hầu hết sản phẩm của Việt Nam còn khiêm tốn.

Mặc dù vậy, trên thực tế, Hiệp định RCEP về cơ bản là một khuôn khổ mang tính kết nối các cam kết hiện hành của ASEAN với từng đối tác trong số 5 đối tác trong một Hiệp định FTA theo hướng tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư hơn. Do đó, về cơ bản Hiệp định RCEP sẽ không tạo ra cam kết mở cửa thị trường cao hơn đối với Việt Nam hay áp lực cạnh tranh mới.

Đồng thời, theo Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại đa biên, với các công cụ phòng vệ thương mại trong khuôn khổ RCEP và WTO, Bộ Công Thương sẽ theo dõi sát sao tình hình xuất nhập khẩu sau khi Hiệp định RCEP có hiệu lực để có biện pháp phòng vệ phù hợp trong những trường hợp hàng hóa nhập khẩu cạnh tranh không công bằng, gây thiệt hại đáng kể để bảo vệ đến sản xuất trong nước.

“Việc cần làm để tăng tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam cũng như cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị khu vực là tăng cường nội lực cho doanh nghiệp”, Bộ Công Thương nhấn mạnh.

 

Theo Vụ trưởng Lương Hoàng Thái, bên cạnh các giải pháp đồng bộ từ Chính phủ, Bộ, ngành và các địa phương, các doanh nghiệp, hiệp hội các doanh nghiệp cũng cần chủ động và tích cực tìm hiểu thông tin về các Hiệp định FTA để nắm vững cam kết của Việt Nam và các thị trường đối tác quan tâm.

“Doanh nghiệp trong nước cũng cần chủ động thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, chuyển sức ép về cạnh tranh thành động lực để tự đổi mới và phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm để có lợi thế cạnh tranh không chỉ ở trong nước mà còn ở thị trường quốc tế”, đại diện Bộ Công Thương nêu rõ.

Về thời gian RCEP có hiệu lực, Bộ Công Thương thông tin cho biết, Hiệp định RCEP sẽ có hiệu lực khi ít nhất 6 nước ASEAN và 3 nước đối tác hoàn tất thủ tục phê chuẩn, chấp nhận hoặc phê duyệt hiệp định. Với các nước còn lại, hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày hoàn tất các thủ tục trong nước.

Đồng thời, sau khi Hiệp định RCEP có hiệu lực, các bên sẽ ngay lập tức thực hiện các cam kết của mình.

Theo đó, Việt Nam và các nước đối tác sẽ xóa bỏ thuế quan đối với ít nhất 64% số dòng thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực.

“Đến cuối lộ trình sau 15-20 năm, Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan với khoảng 85,6-89,6% số dòng thuế với các nước đối tác, trong khi các nước đối tác xóa bỏ cho ta khoảng 90,7-92% số dòng thuế”, Bộ Công Thương cho biết.
Việt Nam bình luận khả năng Nga, Mỹ tham gia RCEP

Chiều qua, trong buổi họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng trả lời câu hỏi của phóng viên Sputnik Việt Nam cho biết, việc phê chuẩn Hiệp định phụ thuộc vào công việc nội bộ của mỗi nước.

“Hiệp định sẽ có hiệu lực khi được thông qua bởi ít nhất 6 nước thành viên ASEAN và 3 nước thành viên không thuộc ASEAN. Các nước liên quan cam kết đảm bảo Hiệp định RCEP là một thỏa thuận mở”, người phát ngôn cho biết.

Bình luận về khả năng các quốc gia khác như Nga, Mỹ…tham gia vào Hiệp định, bà Lê Thị Thu Hằng cho hay, theo quy định, 18 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nước khác có quan tâm và mong muốn tham gia Hiệp định này có thể nộp đơn xin tham gia.

“Việc gia nhập này phải được sự đồng ý của các Bên và quá trình gia nhập cần được thực hiện phù hợp với các thủ tục được thông qua bởi Ủy ban Hỗn hợp RCEP”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh.